Wednesday, September 2, 2015

Kinh bao an - dich nghia

PHỤ MẪU ÂN TRỌNG NAN BÁO KINH
PHẦN DỊCH DIỄN NGHĨA.



Đương thời Đức Phật ở tại vườn của ông Cấp Cô Độc, dưới
một gốc cây lớn trong nước Xá Vệ cùng với hai nghìn năm trăm Tì
Kheo và ba vạn tám nghìn các Đại Bồ Tát. Có một hôm, Phật Đà
hướng dẫn các đệ tử nhắm thẳng hướng Nam mà đi, đột nhiên phát
hiện ra có một đống xương khô ở bên lề đường, Phật Đà thân là
một vị Thế Tôn tức khắc phủ phục thân mình đầu xuóng đất cung
kính lễ lạy đống xương khô.


Hành động của Thế Tôn lần này làm cho các đệ tử sinh ra hồ
nghi không hiểu được, vì sao Thế Tôn lại làm như thế kìa? Tôn
Giả A Nan chắp tay lạy Phật mà hỏi: “Thưa Thế Tôn! Ngài là Đại
Tôn Sư của Tam Giới, cha hiền của toàn thể chúng sinh, thế nhân
thành tâm kính phục tôn sung, chúng con tất cả một lòng kính yêu
Ngài, thỉnh Ngài cho chúng con biết: cuối cùng là do một loại nhân
duyên nào, lý do nào mà Ngài lại hướng về đống xương khô lễ lạy
như thế?”

Bằng giọng nói từ bi Phật Đà bèn đáp: “A Nan, con hỏi rất
đúng, các con tuy là các đệ tử tài giỏi của ta, lại xuất gia tu hành
cũng rất lâu rồi, nhưng cũng có những sự việc các con không hiểu!
Đây là một đống xương khô, có khả năng là Tổ Tiên của chúng ta
ở đời trước, hoặc là cha mẹ của nhiêu đời đến nay, có lý nào người
làm con lại không lễ lạy cha mẹ? Đây là nguyên do sở dĩ ta phải
cung kính hướng về đống xương mà lễ lạy.” Phật Đà nói tiếp: “A
Nan! Bây giờ con hãy mang đống xương khô này chia thành hai
đống, nếu là hài cốt của người nam, thì xương có màu hơi trắng,
trọng lượng hơi nặng; còn nếu là hài cốt của người nữ, màu sắc của
xương hơi đen, trọng lượng hơi nhe một chút.”

Tôn Giả A Nan bèn hỏi: “Thế Tôn! Việc này con không hiểu
gì cả, nam nữ ở tại thế gian mặc quần áo không giống nhau, đầu
của người nam đội mũ gió, thân mặc áo đơn dài, lại thắt giây
ngang lưng, chân đi giày cao, trang sức chỉnh tề, thoạt nhìn thì biết16
ngay là nam tử Hán; người nữ tại thế gian lại thích phấn son, trên
thân thể xức nước hoa, cách trang điểm thân thể như thế này, khả
dĩ nhận ra là thân thể người nữ, nhưng mà bất luận nam hay nữ sau
khi chết đều trở thành bộ xương khô, không có gì sai biệt, vậy làm
sao để phân biệt?”

Phật Đà dùng giọng nói nghiêm trang báo cho A Nan biết:
“Nếu nói là người nam, khi còn tại thế, thường ra vào chùa Phật,
nghe người giảng giải kinh Phật giới luật,cung kính lễ bái Phật
Pháp Tăng Tam Bảo, lại chuyên cần niệm Phật hiệu, cùng với loại
thiện duyên này, sau khi chết, hài cốt của người này trắng trong
sạch như ngọc, phân lượng lại rất nặng. Nếu là người nữ khi còn
tại thế, ngập sâu trong tình ái, không biết nghe kinh lễ Phật lấy việc
sinh trai nuôi gái làm chức sự, mà nuôi dưỡng con nhỏ lấy sữa của
mình để nuôi dưỡng con, sữa cho con bú là do máu huyết của
chính mình biến thành, nuôi một con nhỏ là phải cho con bú trên
tám thạch sữa nước (120 cân= 1 thạch, 1 cân=500 g, tổng số
sữa=480 kg/sữa nước tươi), thân thể của người mẹ làm sao mà
không bị hao gầy tiều tụy nào? Nhân đó người nữ sau khi chết hài
cốt của họ có màu sắc hơi đen, mà phân lượng lại cũng rất nhẹ đi
nhiều!”

Tôn Giả A Nan nghe xong những lời của Phật nói trong lòng
thấy đau khổ như dao cắt, cầm không được nước mắt, đau thương
nuốt lệ mà nói: “Thưa Thế Tôn! Ân đức của từ mẫu phải báo đáp
như thế nào mới đúng?”

Phật Đà nói với A Nan rằng: “Các con hãy bình tâm mà nghe
ta nói đây! Mẫu thân khi đã có thai thì phải trải qua 10 tháng, khả
dĩ nói nếm đủ những cay đắng; mang thai tháng đầu tiên, sinh
mệnh nhỏ nhoi còn giống như hạt sương trên cỏ, buổi sáng không
bảo đảm được đến buổi chiều, lay động muốn rơi, sáng sớm thì
ngưng đọng, sau buổi trưa có khả năng tiêu đâu mất không có tung
tích; tháng thứ hai giống như váng dầu ngưng đọng lại, khi vào
tháng thứ ba phảng phất như một khối máu tròn to ngưng đọng;
đến tháng thứ tư, thai nhi mới hơi hơi có hình dạng con người,
người mẹ mang thai đến tháng thứ năm thì các bộ phận chủ yếu:
gồm đầu, hai tay và hai chân cũng đã thành hình; vào tháng thứ17
sáu, thai nhi trong bụng mẹ, sáu loại tinh khí cũng đã thông suốt,
sáu tinh này chính là mắt, tai, mũi, miệng, lưỡi, ý. Thai nhi bảy
tháng đã phát triển xong ba trăm sáu mươi đốt xương, còn sinh ra
tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông; vào tháng thứ tám đầu não của thai
nhi đã gần như thành thục, có ý thức, có linh tính rồi, chín khổng
đạo trên thân thể cũng đều đã mở ra: hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi,
một lỗ miệng, lỗ đít và lỗ tiểu. Thai nhi vào thời gian chín tháng
trong bụng mẹ hai tay hai chân đá đấm loạn xạ cũng như núi Tu Di
chuyển động làm cho người mẹ ăn ngủ không yên; thai nhi từ sau
khi thụ thai, cho đén khi khóc oa oa chào đời, thời gian đó hút máu
của mẹ chuyển biến thành chất dinh dưỡng mà được sinh tồn; đến
tháng thứ mười từng cơ quan đều lần lượt hoàn chỉnh, thai nhi tùy
thời chuẩn bị sinh ra; trải qua mười tháng mang thai, người mẹ
cũng đã chịu đủ khổ sở! Vì muốn hài nhi được sinh ra thuận lợi
máu của người mẹ chảy ra thành sông, làm cho thai nhi có khả
năng đủ sức thuận theo giòng sông máu mà hạ sinh, nếu gặp lúc hạ
sinh an toàn, nắm tay nắm chân của hài nhi vô cùng thuận lợi để
sinh ra, ít đì sự đau đớn đến thân thể người mẹ, giảm thiểu cho
người mẹ không ít sự thống khổ; nếu nói là sinh sản khó khăn, đôi
tay đôi chân bé nhỏ của hài nhi cào cấu loạn đả, làm cho người mẹ
cảm thấy đau đớn không thể chịu nổi như nghìn đao nắm cắt, như
vạn mũi tên xuyên tâm, chết đi sống lại, thê thảm không nỡ nhìn,
làm người con trai cũng như gái không được quên nỗi thống khổ
phải chịu đựng của mẫu thân khi sinh con, nuôi dưỡng con, nếu
không thì chẳng được như loài cầm thú.”

Trải qua chồng chất những thống khổ, từ mẫu mới sinh được
đứa con yêu, nếu tiến một bước mà phân tích, từ mẫu có ít nhất
mười ân sâu to lớn: “Ân đức thứ nhất là mẫu thân mang thai nhi,
bằng mọi cách chăm sóc bảo hộ. Ân đức thứ hai là mẫu thân lúc
sinh con phải chịu những khổ sở đến cực đại. Ân đức thứ ba là tuy
vì con mà phải chịu mọi sự giày vò, nhưng sinh được đứa con yêu
rồi thì lại quên hết tất cả những khổ lo đã phải gánh chịu vì con.
Ân đức thứ bốn là để nuôi dưỡng con mẫu thân dành sẵn tất cả
những món ăn ngon bổ cho con. Ân đức thứ năm là muốn cho đúa
con nhỏ được ngủ yên ấm, mẫu thân thà chính mình phải chịu ướt18
át rét buốt. Ân đức thứ sáu là cho con bú sữa thì con mập mạp mẹ
gầy yếu. Ân đức thứ bảy là vì con nên phải tẩy rửa những gì bẩn
thỉu, không tiếc gì bàn tay ngọc bị ô nhiễm, không sợ gì da thịt bị
rách buốt. Ân đức thứ tám là khi con phải đi xa, mẹ tựa cổng làng
trông xa lệ rơi tưởng nhớ. Ân đức thứ chín là nguyện thay cho con
chịu khổ, thương xót yêu dấu vô hạn. Ân đức thứ mười là trong
lòng từ mẫu yêu con, thương con không bao giờ ngưng nghỉ.” Sau
đây là những điều Phật Đà lần lượt ca tụng từ mẫu vĩ đại:
Thứ nhất tán dương ân đức Hoài Thai Thủ Hộ: Thân thể con
người khó được, phải trải qua luân hồi một số kiếp mới được làm
thân người, đồng thời kiếp này cũng phải cùng phụ mẫu có duyên,
nhờ vào thai của mẹ để thác sinh đến nhân gian, khoảng trên dưới
năm tháng, thai nhi trong bụng mẹ dần dần sinh ra ngũ tạng lục
phủ, giai đoạn đầu sáu tháng, lục tinh các khiếu môn (lỗ) của mắt
tai mũi miệng lưỡi ý cũng đều mở ra, sức nặng của thai nhi mỗi
ngày gia tăng, mẫu thân cảm thấy như có quả núi nặng nề, thai nhi
trong bụng mẹ động đậy đá lung tung, làm cho từ mẫu cảm thấy
như bị động đất, gió bão, lòng kinh sợ gan rét run, trong tâm chỉ
một lòng nhớ đến thai nhi trong bụng, thêm vào thân tâm mệt mỏi,
nên cũng thành lười biếng chẳng phấn son gì cho cá nhân mình,
quần áo đẹp đẽ gom cất lại, cũng rất ít khi soi gương chải chuốt.”
Thứ hai tán tụng ân đức Lâm Sản Thụ Khổ. Trải qua mười
tháng mang thai, tháng ngày đầy đủ tức là sẽ sinh đẻ con, trước vài
ngày sinh, người mẹ giống như bị bệnh nặng, tay chân như kiệt sức
lực, mỗi ngày như hôn mê, nhất là trong lòng càng lo lắng sợ sệt
rất khó mô tả, bởi vì lo lắng cho sự bình an của con, thường bị lệ
rơi ướt đẫm áo, nói những điều sầu bi với bạn bè thân thiết: “Điều
tôi rất sợ là không phải sự an nguy của bản thân, tôi lo trong lòng
sợ Tử Thần vô tình đoạt mất tiểu sinh mệnh của đứa con yêu qúy
của tôi đi.

Thứ ba tán tụng ân đức Sinh Tử Vong Ưu. Khi người mẹ sinh
con vì lý do phải dùng sức lực, lục phủ ngũ tạng giống như bị tê
liệt, giãy gịụa đau đớn, ngất xỉu đi nhiều hồi, vì con mà máu chảy
giống như thọc huyết dê, nước suối phun ra, người mẹ trải qua lần
này rất khó khăn mà chưa chết sống lại, rũ lòng hỏi đứa con yêu19
dấu của mình, biết chắc rằng con yêu được bình an vô sự, thì mang
trong lòng sự vui sướng vô cùng, ngoài mặt lộ ra nụ cười tươi tỉnh
an vui, sau nỗi vui, lại phải trải qua sự đau đớn như lấp biển đổ
núi, nhưng được đứa con thì lại quên hết những đau đớn, rồi nay
lại nhẫn nại chịu đựng nỗi thống khổ từ ngoài thân xác đến tận
trong tâm khảm.

Thứ tư tán tụng ân đức Yết Khổ Thổ Cam của phụ mẫu. Ân
huệ của phụ mẫu đối với con cái giống như biển sâu, sự chăm lo
che chở không kể ngày đêm, không hề nhăn mặt cau mày, lòng
thương yêu của phụ mẫu đối với con cái thật sâu nặng, không thể
nào tưởng tượng được, chỉ mong sao cho con cái được ấm no, bản
thân mình phải chịu đói chịu rét vẫn tình nguyện cam lòng, chỉ
mong cho con cái được vui vẻ hạnh phúc, phụ mẫu mới được an
vui.

Thứ năm Tán tụng ân đức Hồi Can Tựu Thấp của mẫu thân:
Từ mẫu thương con rất là chu đáo, đêm khuya con đái dầm ướt
giường, ướt chăn chiếu, mẹ vội vàng mang con nhỏ đặt vào một
chỗ khô ráo, bản thân phải ngủ ở nơi vừa ướt vừa lạnh mà không
hề có tiếng than vãn nào, chỉ mong sao con nhỏ ngủ được yên giấc,
một mình chịu lạnh chịu rét không hề để ý tới.Cặp vú của người
mẹ chính là thánh điện của hài nhi, mang đến cho hài nhi ấm áp và
sức khỏe; đôi tay áo của người mẹ vì con mà thành đôi tay che chở
gió rét, cha mẹ vì săn sóc cho con nhỏ mà bữa đói bữa no, lúc ngủ
lúc thức trắng, nghĩ cách làm sao cho con được vui vẻ trong lòng,
chỉ mong con ngủ được yên giấc, mau mau khôn lớn, lòng mẹ từ
đó mới được mãn nguyện, chẳng cầu cái gì khác nữa.

Thứ sáu tán tụng ân đức Bộ Nhũ Dưỡng Dục: Ân đức của từ
mẫu giống như đại địa chuyên chở, sinh sôi ra vạn vật, ân đức của
nghiêm phụ như cái vung trời bao trùm khắp cả, tưới ướt chúng
sinh, lòng cha mẹ thương con đều cũng giống như vậy. Ân sâu xa
của cha mẹ cũng tương đồng, chỉ cần là những đứa con của cha
mẹ, chẳng kể lớn lên dù phải chịu xấu xí bao nhiêu, cha mẹ cũng
không hề ghét bỏ, càng không bao giờ nhìn đứa con xấu xí với đôi
mắt giận dữ vì chân tay của đứa con bị cong queo, không nhanh
nhẹn, cha mẹ cũng chẳng hề chán ghét con, ngược lại cha mẹ càng20
thêm thương yêu chăm sóc, chính vì đứa con là báu vật trong lòng
cha mẹ, chân tình của cha mẹ làm sao không thể cảm động được
lòng người, chân tình của cha mẹ làm sao không thể vĩ đại cho
được!

Thứ bảy tán tụng ân đức Tẩy Trạc Bất Tịnh: Thân thể của mẹ
nguyên là lá ngọc cành vàng, diện mạo đẹp như hoa phù dung, tinh
thần tráng kiện, sáng sủa lại phong phú, lông mi xanh biếc như tơ
liễu, má thêm đỏ hồng, biểu hiện dáng điệu tươi trẻ, rực rỡ, nhưng
đã từng trải qua những thời kỳ vì con cái làm việc quá độ, diện
mạo như hoa biến thành xanh xao, già cỗi không thể tưởng tượng
được, đôi bàn tay xinh đẹp như ngọc cũng vì con cái phải tẩy rửa
những thứ dơ bẩn để biến thành thô kệch, nứt nể loang lổ, lòng mẹ
quả thật đáng thương mà đáng kính, vì con cái phải hy sinh tuổi trẻ
thanh xuân quí giá của chính mình, đổi lấy vẻ mặt tiều tuỵ mỏi
mệt!

Thứ tám ân đức Viễn Hành Ức Niệm: Có người thân tử biệt
con người ta thật rất đau thương không kể xiết, đau đớn đứt cả ruột
gan, đó cũng chính là khi có người con yêu dấu sống tha hương,
cũng làm cho mẹ hiền sầu thương không dứt; con cái xa quê
hương, núi sông cách trở, cha mẹ sớm tối thấp thỏm trông ngóng,
cầu Trời khấn Phật che chở phù hộ cho con để sớm có ngày được
bình an trở về bên cha mẹ, có những người con sống xa nhà cả
nhiều năm chẳng có thư từ tin tức gì, cha mẹ tuổi già sống tại nhà
ngày đêm trông mong, chỉ biết lau nước mắt đẫm trên mặt, giống
như con vượn già đã bị đánh mất con khóc lóc kêu gào, ruột gan
đứt đoạn, khiến cho lòng người cũng cảm thấy chua chát.

Thứ chín ân đức Thể Tuất Tử Nữ: Ân tình của cha mẹ thật
sâu nặng, làm người con thực khó lòng báo đáp, thực là “Ai nói
lòng tấc cỏ, báo đáp được ơn ba xuân!” Tình yêu con của mẹ quả
là to lớn! Con cái đi khỏi nhà sống ở ngoài, lòng mẹ thường đi theo
con, thương xót con chịu rét lạnh, sợ con phải chịu lụy chịu khổ,
nếu như biết được con phải chịu chút ít đau khổ, mẹ hiền tối đêm
không ngủ được, lòng thấy chua chat không thôi!

Thứ mười tán tụng ân đức Cứu Cánh Liên Tử: Lòng từ ái của
phụ mẫu như ánh sáng rực rỡ của mặt trời mặt trăng, mặt trời mặt21
trăng mãi mãi chiếu khắp nơi trên trái đất to lớn, tấm lòng của phụ
mẫu mãi mãi nhớ nghĩ đến con cái, ơn của cha mẹ sâu nặng, tấm
lòng của phụ mẫu càng không có lúc nào mà ngưng nghỉ, trong
sinh hoạt hàng ngày, khi đi đứng tâm thường nhớ nhung đến con
cái, chẳng kể gia đình các con đã ra ngoài sinh sống, lại càng để
lòng đi theo bên cạnh con, cho dù cha mẹ trăm tuổi cũng luôn vì
những đứa con tám mươi tuổi mà gửi gấm tấm lòng thương yêu,
phải nói ân đức thương yêu của phụ mẫu quả là vô tận, trừ phi
sống chết hai đường cách biệt.

Phật Đà nói xong mười đại ân đức của phụ mẫu, tiếp tục nói
với A Nan và chúng sinh rằng: “Ta thấy rất nhiều chúng sinh, tuy
có tính thiên phú chẳng sai, nhưng những người này lại tối tăm
không biết gì, xưa nay chẳng nghĩ rằng phụ mẫu có rất nhiều từ
đức ân trọng đối với con cái, đối xử với phụ mẫu họ không biết
cung kính hiếu thuận, ngỗ nghịch bất hiếu, vong ân phụ nghĩa, thật
sự làm người ta phải đau lòng! Các con đều biết rằng người mẹ
mang thai mười tháng, trong bụng như phải mang vật nặng, đứng
ngồi chẳng được yên ổn, ăn nuốt không trôi, ngủ cũng chẳng đặng,
như bệnh lâu ngày trói buộc vào thân thể, tinh thần suy sụp, thời
kỳ mang thai đã mãn hạn tức ngày sinh sản đến, mẹ còn phải chịu
hàng trăm đau đớn, máu chảy loang đầy đất, chết đi sống lại, phải
trải qua vô số những dày vò mới sinh ra được một hài nhi, người
mẹ lại còn phải lo lắng cho hài nhi có được bình an vô sự không,
nghe được nói rằng hài nhi an toàn sinh ra, mẹ mới được an tâm.
Đứa sinh ra rồi, mẹ bồng bế không rời tay, chăm sóc cho con bú
mớm, tay chân ê ẩm cũng đều vui chịu đựng, còn phải cay đắng
nữa vì con mà tẩy rửa quần áo, vật dụng dơ bẩn, hài nhi tiểu tiện
trên giường, mẹ phải ngủ nơi ẩm ướt, nhường chỗ khô ráo cho con
ngủ mà không một lời oán than, trong ba năm bồng bế thứ hài nhi
uống mỗi ngày chính là sữa mẹ, máu mẹ từ đó làm cho mẹ phải
gầy yếu!”

“Từ khi anh nhi cất tiếng khóc oa oa cho đến tuổi đồng niên,
thiếu niên, thanh niên, phụ mẫu không biết đã phải hao phí mất bao
nhiêu là tâm huyết để giáo dục con cái hiểu rõ về lễ nghĩa, tu đức
tính, con cái lớn lên thành người, phụ mẫu lại phải cay đắng khổ sở22
chuẩn bị dựng vợ gả chồng cho con, gom góp tiền vàng cho con
cái kinh doanh sự nghiệp, mong cho con cái sớm có thể có gia đình
nghề nghiệp vững chãi, tình thương yêu dắt dìu con cái của phụ
mẫu quả hết sức cực nhọc, nhưng chưa ttừng trước mặt con cái nói
ra hai chữ ân huệ, lại chẳng bao giờ trông mong vào sự báo đáp
của con. Một sáng nào con cái bị lâm bệnh, phụ mẫu trong lòng
sinh lo lắng như bị lửa đốt, thường vì quá thương con mà mẹ sinh
ra bệnh, chỉ còn mong con cái hết bệnh mạnh khỏe trở lại, thì bệnh
của mẹ do lo lắng sinh ra mới từ từ bình phục!”

“Phụ mẫu phải trải qua hàng trăm những cay đắng để dưỡng
dục con cái lại nguyện cho con sớm có ngày khôn lớn nên người,
có những người con một sớm được lớn khôn lại không biết phải
hiếu thuận với song thân, phụng dưỡng cha mẹ, những lời dạy dỗ
của song thân chẳng thêm được sự thông hiểu nào, hoặc nói ra
những lời châm chọc cha mẹ, thậm chí trợn mắt nhìn cha mẹ như
người thù, trong giòng tộc lại lăng nhục các bậc trưởng thượng,
chửi mắng những người anh em của mình, không đoái hoài gì đến
sự thân tình và lễ nghĩa, thật làm cho người khác đau lòng, nhức
óc. Tuy từng đi học đọc sách, nhưng lại chẳng tuân theo giáo huấn
của sư trưởng và sự khuyên bảo của phụ mẫu an hem, chẳng những
chẳng nghe lại còn ngang ngược ra vào nhà cửa không thèm thưa
gửi cha mẹ, lời nói hành động cử chỉ ngạo mạn vô lễ, làm việc gì
cũng đều chuyên quyền, tự ý chủ trương. Do vì các bậc trưởng bối
thương xót cho con cháu còn trẻ dại chưa biết gì, nên xem nhẹ bỏ
qua, nhưng đến sau này tính tình mỗi ngày thay đổi trở nên bạo
ngược, tàn nhẫn, chẳng những chẳng nghe các lời khuyên răn,
ngược lại trong lòng phát sinh ra thù hận, cuối cùng là xa lành các
người thân thích, bạn tốt, kết giao với những kẻ hại người hại bạn,
lâu ngày thành tính nết, điên đảo thị phi, làm hại bản thân mình,
ngu xuẩn vô cùng!”

“Một sớm bị bọn người xấu hại bạn dụ dỗ bèn bỏ cha mẹ gia
đình, rời bỏ quê hương, lưu lạc xứ ngườí, hoặc giả sống ở ngoài để
buôn bán mưu sinh, làm đủ các loại công việc, năm tháng lần lữa
trôi qua, tuối đời càng lớn, có người ở xứ người kết hôn lập gia23
đình, thậm chí già chết rồi mà chưa hồi hương, chưa từng tưởng
đến rằng thân thể này do đâu mà có vậy?”

“Có những người càng bất hạnh hơn, phiêu lưu nơi xứ người
lại giao dịch với bọn người ác hại người hại bạn, tự mình lại không
chú tâm cẩn thận, nên bị người ác dùng mưu kế hãm hại, hoặc
cùng với bọn xấu nhiễm tính xấu, làm những việc xấu xa, cuối
cùng bị dính líu, tai họa đến phải bị còng tay vào tù, hoặc bị xử tội
nặng, chết già trong ngục tốí, hoặc bệnh ma quỷ tai ách ràng rịt vào
thân, bị nghèo bệnh tật bức bách, thảm hại tả tơi chịu không nổi, bị
người đời khinh miệt, không ai thèm đoái hoài, bị bệnh hoạn thật
nặng, chết bỏ thây ngoài đầu đường, hình hài thối rữa, phơi dưới
nắng mưa, xương trắng khô cằn, hồn quỷ lưu lạc xứ người, từ đó
cách biệt thân nhân gia tộc, lại càng phụ bạc ơn sâu của cha mẹ!
Con cái bất hiếu chết thật rồi! Chẳng biết gì đến nghiêm phụ từ
mẫu nữa, sau khi đứa con thương yêu xa nhà, ngày đêm tưởng nhớ,
lòng lo lắng từng giờ từng khắc trông đợi, trông ngóng con lòng
như lửa đốt, ruột gan như cắt, nhân vì nghĩ nhớ con mà lệ đổ quá
nhiều, mắt do khóc lóc hoá mù lòa, sầu thương quá độ nên bị bệnh
khí suyễn; có các bậc phụ mẫu càng do nhớ mong con cái chẳng
còn chú tâm đến buôn bán, đưa đến gia đạo mỗi ngày suy thoái,
thậm chí mang bệnh mang hận mà chết, tức thân chết làm hồn ma
nhưng vẫn niệm niệm không quên được đứa con yêu dấu, không
thể cắt bỏ lòng thương yêu con, đúng là nhân tính rất thương con
lưu lộ ra ngoài”

“Có những đứa con chẳng những chẳng chuyên cần học tập
nghề nghiệp, lại thương xuyên kết bạn với bọn bất lương, truy tìm
những dị đoan tà thuyết, làm ra những hành vi bại hoại phong tục,
mười đứa đủ cả các bộ mặt vô lại, một bọn chó dũng mãnh, khinh
khi trấn áp những người lương thiện, làm chuyện lén lút, say sưa
cờ bạc, làm xằng làm bậy, gian dối phạm tội trong làng xóm, làm
cho đồng bào anh em phải liên luỵ, càng làm cho cha mẹ đau lòng,
tâm không an, không biết phải làm sao! Sáng sớm đi ra ngoài du
đãng cho đến khuya, nửa đêm mới về đến nhà, từ đó chẳng hề
thăm hỏi chăm lo đến cha mẹ, làm cho cha mẹ cảm thấy cô đơn vô
cùng bởi không ai đoái hoài giúp đỡ, cha mẹ tuổi tác ngày càng24
cao, hình hài tiều tuỵ, thân thể suy bại lại còn phải chịu sự liên luỵ,
chịu sự cười chê và lăng nhục, làm con cái mà nhẫn tâm vậy sao?”
Có những người con phải mất cha hoặc mất mẹ, đáng lý
phảiđặc biệt hiếu thuận mới đúng, nhưng sự thực không như thế,
bỏ phụ mẫu lạnh lẽo một thân, mặc cho cha hoặc mẹ vừa đói vừa
lạnh, không thăm không hỏi, làm cho cha mẹ sống trong tăm tối
một mình bi thương khóc lóc, tự oán tự than sao lại bất hạnh thế
này! Làm con cái đáng lý phải hoàn thành trách nhiệm phụng
dưỡng cha mẹ, con cái bất hiếu đã không nhận lấy trách nhiệm
này, làm cho cha mẹ hổ thẹn, chịu nhục nhã, trước mặt người khác
không dám ngẩng đầu lên, bởi sợ người khác chê cười.”
Thường trông thấy có những đứa con vì sinh hoạt của vợ con
nên phải cấp dưỡng, nỗ lực làm việc để chiếm được sự vui lòng
của vợ con, nhưng lại để cha mẹ lạnh lẽo một mình, xem cha mẹ
như người ngoài; vợ nói nhỏ thì nghe làm theo cả trăm chuyện, còn
những lời dạy dỗ của cha mẹ thì đầy tai không chịu nghe hoặc mở
miệng cãi lại, hoàn toàn không lòng kính mến, thực làm cha mẹ
đau xót trong lòng. Có những đứa con gáikhi chưa xuất giá, còn
biết hiếu thuận với cha mẹ, một sớm sau khi lấy chồng, lại biến
thành bất hiếu, cha mẹ vừa nói vài câu trong lòng liền sinh oán
hận, hiềm khích nhưng lại chịu đựng sự mắng chửi, đánh đập của
chồng, câm lặng mà chịu đựng. Đối với những người trong gia
đình chồng tình ý rất thâm hậu, đối với trai gái trong gia đình cũng
cực kỳ yêu trọng, nhưng đối vớicha mẹ chí thân cốt nhục thì lại
ngày dần dần lơ là xa cách, thực sự làm cha mẹ phải đau lòng! Lại
còn có những đứa con gái bất hiếu, theo chông ra xứ người cư trú,
xa lìa cha mẹ ở cố hương, một số cũng chẳng nghĩ đến thương cho
cha mẹ, tựa như cùng cha mẹ đoạn tuyệt vậy, một lá thư cũng
chẳng thèm gửi, làm cho cha mẹ ngày đêm trông ngóng, bồn chồn
nhớ mong, ăn ngử không yên, giống như người bị treo ngược rất
khó chịu, tình cha mẹ tưởng nhớ con chẳng bao giờ có thể ngưng
lại được. Thâm ân của cha mẹ đối với con cái là đại đức, thật là
mênh mông không biên giới, mãi mãi không có điểm ngừng,
không bút mực nào có thể hình dung hết được! Con cái nếu bất25
hiếu hướng đến Thần Minh mà xám hối e rằng cũng khó mà tẩy
thoát hết được!”

Phật Đà nói xong ân đức thâm trọng của phụ mẫu, các Thiện
Tri Thức mỗi người đều cảm thấy buồn đau, thương xót không
thôi, có người quỳ mọp dưới đất hướng lên không trung lễ bái, có
người đấm vào bụng mình tự trách, do vì quá độ sầu thương mà
toàn thân lỗ chân lông xuất ra máu tươi, do buồn bực mà chết ngất
đi một lúc. Chẳng lâu các người bất tỉnh đều tỉnh lại, đồng thanh
nói to lên rằng: “Thật nhiều đau khổ quá! Cha mẹ vì con cái đã
phải chịu đau khổ quá! Làm cho mọi người buồn đau thương xót!
Những đứa con bất hư hỏng cũng đã làm cha mẹ đau lòng! Chúng
tôi nay hồi tưởng lại, trong quá khứ thật là các đại tội nhân, thời đó
giống như các du thần đi trong đêm tối, lang thang phiêu bạt hết
Đông sang Tây, sinh hoạt trong ngày như kẻ uống ruợu say và
trầm lắng trong mê, từ đó cũng chẳng tưởng đến rằng tội khiên của
chính mình là nhiều và sâu nặng, bây giờ lắng nghe được giáo thị
của Phật Đà, như vừa tỉnh dậy từ đại mộng, thật hối hận một cách
sâu sắc những sai trái trong dĩ vãng, nghĩ rằng chính mình quả bất
hiếu bất nhân quá thể, ruột gan thực sự như tan nát, ngũ tạng như
lửa cháy! Nguyện thỉnh Thế Tôn từ bi thương xót cho sự không
biết của chúng con, cho chúng con một cơ hội bù đắp chuộc lại tội
lỗi, cho mọi người chúng con phải dùng phương pháp nào mới có
thể báo đáp ân sâu của cha mẹ?”

Phật Đà tiện thể kể ra tám diệu pháp để hiểu dụ các đệ tử:
“Các con dĩ nhiên đã hiểu rõ được rằng ân đức của phụ mẫu rất
thâm trọng, nay ta cũng vì các con mà thuyết minh: giả sử như có
một cá nhân, vai trái gánh cha, vai phải gánh mẹ đi vòng quanh
ngọn núi Tu Di, người gánh sẽ bị đá sắc đâm vào chân rất khó chịu
lại xuyên thấu cốt tủy nhưng vẫn không kêu khổ, máu tươi chảy ra
ngập đến mắt cá chân và phải trải qua hàng trăm ngàn vạn kiếp
như thế, tuy nhiên vẫn báo đáp được ân đức của cha mẹ.
Giả như có người nào sống trong những năm mất mùa, vì
không muốn cha mẹ bị đói, cắt thịt trên thân thể của mình, thái
thành những miếng thịt nhỏ và cấp dưỡng cho cha mẹ không bị26
đói, tuy có lòng hiếu thảo như thế trải qua hàng trăm ngàn vạn kiếp
cũng còn khó có thể báo đáp được ân đức của cha mẹ.

Lại nếu có người nào vì muốn cầu xin cho cha mẹ được bình
an trường thọ bèn móc hai mắt của mình ra đem dâng cúng Phật
Như Lai, và cứ làm như thế trải qua trăm ngàn vạn kiếp cũng còn
chưa có thể báo đáp được một phần trong vạn phần ân đức của cha
mẹ.
Giả như có người nào vì cha mẹ của mình, dùng dao sắc
nhọn móc tim của chính mình, đến nỗi máu chảy loang khắp mặt
đất, nhưng vẫn không sợ tất cả nhưng đau đớn, làm như thế trải
qua trăm ngàn vạn kiếp cũng còn chưa có thể báo đáp được ân đức
của phụ mẫu.

Lại có người nào vì cha mẹ mà chịu đựng trăm ngàn những
đao kích nhọn sắc cùng một lúc đâm vào thân thể của mình, đâm
thẳng rồi đâm ngang trải qua hàng trăm ngàn vạn kiếp chịu như thế
cũng không thể nào báo đáp được ân sâu của cha mẹ.
Giả sử có người nào vì muốn cầu xin sự bình an trường thọ
của cha mẹ mình, lấy chính thân thể của mình đốt lên làm đèn
trước Phật để cúng dường Như Lai và trải qua trăm ngàn vạn kiếp
cũng còn chưa thể báo đáp được ân sâu của cha mẹ.
Như có người nào vì muốn báo đáp sự lao khổ của cha mẹ
mà vào nơi nước sôi lửa bỏng, gãy xương xuất tủy tuy phải trải qua
như thế vô số vạn kiếp, nhưng cũng không báo đáp hết được ơn
sâu của cha mẹ.

Giả sử có người nào muốn hết sức làm tròn trách nhiệm
người con, thay cho cha mẹ nuốt những viên sắt tròn nóng bỏng,
toàn thân bị sắt nướng, bỏng lửa, cháy nát không kham nổi, cứ chịu
như thế qua trăm ngàn vạn kiếp cũng còn chưa có thể báo đáp
được một phần của hàng vạn ơn sâu vủa cha mẹ.

Lúc bấy giờ mọi người đã lắng nghe kỹ Phật Đà chỉ dạy các
loại ơn đức của phụ mẫu, mỗi người đều thấy bi thương rơi lệ, lòng
như bị dao cắt rất khó chịu, lại nghĩ không ra là làm sao để có
phương pháp báo đáp ân đức của phụ mẫu? Thật là hổ thẹn không
thôi, nên tất cả đã hướng Phật Đà đồng thanh vấn kế: “ Thưa Thế
Tôn! Bây giờ chúng con đã hiểu kỹ rằng chính chúng con là những27
tội nhân bất hạnh, nhưng mà không biết phải làm sao mới có thể
báo đáp được ơn sâu của cha mẹ?”

Phật Đà thấy mọi người đều có ý thẹn, nên hoan hỉ nói với
mọi người rằng: “Nếu như tưởng đến báo đáp ân đức của phụ mẫu
thì ít nhất vì phụ mẫu làm sáu sự kiện được liệt kê dưới đây: 1/ Sao
chép bộ kinh này, 2/ Đọc bộ kinh này, 3/ Xám hối tất cả tội lỗi, 4/
Cung kính thành tâm cúng dường Tam Bảo, 5/ Ắt nên thụ trì trai
giới, 6/ Bố thí nhiều, khuyến tu thiện pháp, gieo trồng rộng rãi cội
phúc. Sáu sự kiện này đều có thể làm được, đây chính là người con
có hiếu, nếu không thì phải nói đó chính là chúng sinh trong địa
ngục.”

Phật Đà nói tiếp lại hướng về Tôn Giả A Nan mà giảng dạy:
“Người bất hiếu với cha mẹ, sau khi chết tất nhiên phải đọa lạc vào
đại địa ngục A Tỳ, địa ngục này bề ngang tám vạn do tuần (1 do
tuần= 16 miles), bốn chung quanh đều là tường sắt, chung quanh
có lưới, làm cho tù nhân không có cách nào để dào thoát, trên mặt
đất là sàn bằng sắt có lửa mạnh đốt cháy, đâu đâu cũng có tia sáng
sấm sét, lửa điện, lại có đồng, thiết nấu chảy tưới lên thân thể tội
nhân, lại còn có thiết xà, đồng cẩu miệng phun lửa mạnh đuổi cắn
phạm nhân, mỗi phạm nhân bị thiêu, đói khát da dẻ cháy nát, khổ
không thể nói hết được, trên không còn có vô số tận những câu
móc, sung ống, khắp nơi đều là búa chuỳ bằng sắt, trường mâu,
sơn đao, kiếm thụ, đủ các loại hình cụ tra tấn, tuỳ lúc chuẩn bị sẵn
sàng đối với các phạm nhân để bị trảm, sát, phạm nhân trong địa
ngục phải chịu như thế hàng trăm nỗi khổ sở, không bao giờ ngưng
nghỉ, cũng không biết phải trải qua bao nhiêu là số kiếp? Chịu
xong hình phạt nơi này lại phải đưa vào địa ngục khác, trên đầu đội
chậu lửa nóng cháy mạnh mẽ, còn phải chịu thiết xa ép và dày vò
thân xác, thiết xa quay lại trượt qua thân làm cho lòng ruột bị
nghiến nát bét, xương đầu đều bể gãy, da thịt đều bị nát rữa ra,
trong thời gian một ngày mà phải chịu bao nỗi đau khổ chết đi
sống lại, thật chẳng dám nhìn. Những phạm nhân trong địa ngục
đều là do kiếp trước phạm trọng tội ngũ nghịch bất hiếu, mới phải
chịu sự dày vò như thế, hàng trăm thứ khổ sở.”
Lúc này mọi người đã nghe xong những lời Phật Đà khai thị,
đều thấy hổ thẹn, đau thương, mắt đẫm lệ hướng Phật Đà nêu câu
hỏi: “Mọi người chúng con phải làm thế nào bây giờ mới có thể
báo đáp ân sâu của cha mẹ?”

Phật Đà đáp lại: “Chẳng gì bằng biên ấn kinh này làm cho
kinh này phổ biến rộng rãi, có thể quyên ấn một quyển tức được
thấy công đức một Tôn Phật, nếu như quyên ấn mười quyển thì có
thể thấy được công đức mười Tôn Phật, từ đó suy ra, in ra trăm
quyển, nghìn quyển, vạn quyển kinh này, thì có thể thấy được công
đức trăm Tôn, nghìn Tôn, vạn Tôn Phật Đà. Người nào quyên góp
in ấn kinh này gợi ý cho chúng sinh, chư Phật tất nhiên thường
thường ở bên cạnh che chở cho, do Phật lực độ trì làm cho cha mẹ
và bản thân người này được sinh ở cõi trên hưởng thụ hạnh phúc
trời người mà không phải đọa lạc vào địa ngục chịu khổ.”
A Nan Tôn Giả cùng những người khác bao gồm Thiên Long
Bát Bộ và Chuyển Luân Thánh Vương đã nghe kỹ sự giáo hóa của
Phật Đà, buồn bã không ngăn được, hổ thẹn mãi không thôi, lông
tóc đều dựng đứng, mọi người đều hổ thẹn đau lòng hướng Phật
Đà thật lòng xám hối, phát nguyện lời thề: “Từ bây giờ cho đến vị
lai vô tận chính là trải qua ngàn vạn kiếp năm, tất cả chúng con dẫu
phải phân thây nát xươngthành cát bụi cũng nhất định gìn giữ
những lời dạy dỗ Thần Thánh của Như Lai, không dám một chút vi
phạm. Chúng con xin nguyện dẫu bị móc câu sắc móc kéo đầu lưỡi
dài ra cho đến do tuần, lại bị lưỡi cày sắt ở phía trên lưỡi cày qua
lại làm cho máu tươi chảy quanh thành song, cứ như thế trải qua
thời gian trăm nghìn kiếp cũng thề quyết chí không vi phạm lời
dạy của Phật Đà; xin nguyện dẫu tại trăm ngàn mũi nhọn làm
thành bánh xe đao phóng ra, chịu lưỡi đao nhọn sắc đâm vào thân
thể, nạo xương tủy, cũng không dám vi phạm sự giáo hóa của Phật
Đà; tức dẫu trong lưới sắt trói chặt toàn thân, đau khổ không chịu
nổi, tuy phải trải qua trăm ngàn vạn kiếp, cũng không dám vi phạm
lời dạy dỗ của Phật Đà; xin nguyện dẫu lưỡi đao đâm giã, các hình
cụ khác đâm giã thân thể thành tương thịt, tức làm cho da thịt gân
cốt khó nhận biết và phải trải qua trăm ngàn số kiếp cũng mãi mãi
không dám vi phạm lời dạy dỗ của Phật Đà.Sau cùng, Tôn Giả A Nan khoan thai từ vị trí chỗ ngồi đứng
dậy cung kính hướng Phật Đà thỉnh thị: “Thưa Thế Tôn! Kinh này
phải xưng hô là kinh gì? để chúng con tuân theo mà phụng trì?”
Phật Đà bèn bá cáo với mọi người rằng: “Bộ kinh này được
gọi là Phụ Mẫu Ân Trọng Nan Báo Kinh, các con mọi người hãy
tuân thủ và thi hành cho thật tốt!”
Lúc này A Nan cùng các đệ tử, Thiên Long Bát Bộ, mọi
người đã cung kính lắng nghe sự khai thị của Phật Đà, hiểu rõ
được đạo lý lòng sinh hoan hỉ, từng người hạ quyết tâm muôn đời
muôn kiếp kính cẩn tuân theo những lời dạy của Phật Đà, lấy hành
hiếu, tận hiếu làm chức sự. Sau đó mọi người hướng Phật Đà đảnh
lễ quỳ dài mà lạy rồi cáo lui.

No comments:

Post a Comment