PHỤ MẪU ÂN TRỌNG NAN BÁO KINH
PHẦN DỊCH DIỄN NGHĨA.
Đương thời Đức Phật ở tại vườn của ông Cấp Cô Độc, dưới
một gốc cây lớn trong nước Xá Vệ cùng với hai nghìn năm trăm Tì
Kheo và ba vạn tám nghìn các Đại Bồ Tát. Có một hôm, Phật Đà
hướng dẫn các đệ tử nhắm thẳng hướng Nam mà đi, đột nhiên phát
hiện ra có một đống xương khô ở bên lề đường, Phật Đà thân là
một vị Thế Tôn tức khắc phủ phục thân mình đầu xuóng đất cung
kính lễ lạy đống xương khô.
Hành động của Thế Tôn lần này làm cho các đệ tử sinh ra hồ
nghi không hiểu được, vì sao Thế Tôn lại làm như thế kìa? Tôn
Giả A Nan chắp tay lạy Phật mà hỏi: “Thưa Thế Tôn! Ngài là Đại
Tôn Sư của Tam Giới, cha hiền của toàn thể chúng sinh, thế nhân
thành tâm kính phục tôn sung, chúng con tất cả một lòng kính yêu
Ngài, thỉnh Ngài cho chúng con biết: cuối cùng là do một loại nhân
duyên nào, lý do nào mà Ngài lại hướng về đống xương khô lễ lạy
như thế?”
Bằng giọng nói từ bi Phật Đà bèn đáp: “A Nan, con hỏi rất
đúng, các con tuy là các đệ tử tài giỏi của ta, lại xuất gia tu hành
cũng rất lâu rồi, nhưng cũng có những sự việc các con không hiểu!
Đây là một đống xương khô, có khả năng là Tổ Tiên của chúng ta
ở đời trước, hoặc là cha mẹ của nhiêu đời đến nay, có lý nào người
làm con lại không lễ lạy cha mẹ? Đây là nguyên do sở dĩ ta phải
cung kính hướng về đống xương mà lễ lạy.” Phật Đà nói tiếp: “A
Nan! Bây giờ con hãy mang đống xương khô này chia thành hai
đống, nếu là hài cốt của người nam, thì xương có màu hơi trắng,
trọng lượng hơi nặng; còn nếu là hài cốt của người nữ, màu sắc của
xương hơi đen, trọng lượng hơi nhe một chút.”
Tôn Giả A Nan bèn hỏi: “Thế Tôn! Việc này con không hiểu
gì cả, nam nữ ở tại thế gian mặc quần áo không giống nhau, đầu
của người nam đội mũ gió, thân mặc áo đơn dài, lại thắt giây
ngang lưng, chân đi giày cao, trang sức chỉnh tề, thoạt nhìn thì biết16
ngay là nam tử Hán; người nữ tại thế gian lại thích phấn son, trên
thân thể xức nước hoa, cách trang điểm thân thể như thế này, khả
dĩ nhận ra là thân thể người nữ, nhưng mà bất luận nam hay nữ sau
khi chết đều trở thành bộ xương khô, không có gì sai biệt, vậy làm
sao để phân biệt?”
Phật Đà dùng giọng nói nghiêm trang báo cho A Nan biết:
“Nếu nói là người nam, khi còn tại thế, thường ra vào chùa Phật,
nghe người giảng giải kinh Phật giới luật,cung kính lễ bái Phật
Pháp Tăng Tam Bảo, lại chuyên cần niệm Phật hiệu, cùng với loại
thiện duyên này, sau khi chết, hài cốt của người này trắng trong
sạch như ngọc, phân lượng lại rất nặng. Nếu là người nữ khi còn
tại thế, ngập sâu trong tình ái, không biết nghe kinh lễ Phật lấy việc
sinh trai nuôi gái làm chức sự, mà nuôi dưỡng con nhỏ lấy sữa của
mình để nuôi dưỡng con, sữa cho con bú là do máu huyết của
chính mình biến thành, nuôi một con nhỏ là phải cho con bú trên
tám thạch sữa nước (120 cân= 1 thạch, 1 cân=500 g, tổng số
sữa=480 kg/sữa nước tươi), thân thể của người mẹ làm sao mà
không bị hao gầy tiều tụy nào? Nhân đó người nữ sau khi chết hài
cốt của họ có màu sắc hơi đen, mà phân lượng lại cũng rất nhẹ đi
nhiều!”
Tôn Giả A Nan nghe xong những lời của Phật nói trong lòng
thấy đau khổ như dao cắt, cầm không được nước mắt, đau thương
nuốt lệ mà nói: “Thưa Thế Tôn! Ân đức của từ mẫu phải báo đáp
như thế nào mới đúng?”
Phật Đà nói với A Nan rằng: “Các con hãy bình tâm mà nghe
ta nói đây! Mẫu thân khi đã có thai thì phải trải qua 10 tháng, khả
dĩ nói nếm đủ những cay đắng; mang thai tháng đầu tiên, sinh
mệnh nhỏ nhoi còn giống như hạt sương trên cỏ, buổi sáng không
bảo đảm được đến buổi chiều, lay động muốn rơi, sáng sớm thì
ngưng đọng, sau buổi trưa có khả năng tiêu đâu mất không có tung
tích; tháng thứ hai giống như váng dầu ngưng đọng lại, khi vào
tháng thứ ba phảng phất như một khối máu tròn to ngưng đọng;
đến tháng thứ tư, thai nhi mới hơi hơi có hình dạng con người,
người mẹ mang thai đến tháng thứ năm thì các bộ phận chủ yếu:
gồm đầu, hai tay và hai chân cũng đã thành hình; vào tháng thứ17
sáu, thai nhi trong bụng mẹ, sáu loại tinh khí cũng đã thông suốt,
sáu tinh này chính là mắt, tai, mũi, miệng, lưỡi, ý. Thai nhi bảy
tháng đã phát triển xong ba trăm sáu mươi đốt xương, còn sinh ra
tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông; vào tháng thứ tám đầu não của thai
nhi đã gần như thành thục, có ý thức, có linh tính rồi, chín khổng
đạo trên thân thể cũng đều đã mở ra: hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi,
một lỗ miệng, lỗ đít và lỗ tiểu. Thai nhi vào thời gian chín tháng
trong bụng mẹ hai tay hai chân đá đấm loạn xạ cũng như núi Tu Di
chuyển động làm cho người mẹ ăn ngủ không yên; thai nhi từ sau
khi thụ thai, cho đén khi khóc oa oa chào đời, thời gian đó hút máu
của mẹ chuyển biến thành chất dinh dưỡng mà được sinh tồn; đến
tháng thứ mười từng cơ quan đều lần lượt hoàn chỉnh, thai nhi tùy
thời chuẩn bị sinh ra; trải qua mười tháng mang thai, người mẹ
cũng đã chịu đủ khổ sở! Vì muốn hài nhi được sinh ra thuận lợi
máu của người mẹ chảy ra thành sông, làm cho thai nhi có khả
năng đủ sức thuận theo giòng sông máu mà hạ sinh, nếu gặp lúc hạ
sinh an toàn, nắm tay nắm chân của hài nhi vô cùng thuận lợi để
sinh ra, ít đì sự đau đớn đến thân thể người mẹ, giảm thiểu cho
người mẹ không ít sự thống khổ; nếu nói là sinh sản khó khăn, đôi
tay đôi chân bé nhỏ của hài nhi cào cấu loạn đả, làm cho người mẹ
cảm thấy đau đớn không thể chịu nổi như nghìn đao nắm cắt, như
vạn mũi tên xuyên tâm, chết đi sống lại, thê thảm không nỡ nhìn,
làm người con trai cũng như gái không được quên nỗi thống khổ
phải chịu đựng của mẫu thân khi sinh con, nuôi dưỡng con, nếu
không thì chẳng được như loài cầm thú.”
Trải qua chồng chất những thống khổ, từ mẫu mới sinh được
đứa con yêu, nếu tiến một bước mà phân tích, từ mẫu có ít nhất
mười ân sâu to lớn: “Ân đức thứ nhất là mẫu thân mang thai nhi,
bằng mọi cách chăm sóc bảo hộ. Ân đức thứ hai là mẫu thân lúc
sinh con phải chịu những khổ sở đến cực đại. Ân đức thứ ba là tuy
vì con mà phải chịu mọi sự giày vò, nhưng sinh được đứa con yêu
rồi thì lại quên hết tất cả những khổ lo đã phải gánh chịu vì con.
Ân đức thứ bốn là để nuôi dưỡng con mẫu thân dành sẵn tất cả
những món ăn ngon bổ cho con. Ân đức thứ năm là muốn cho đúa
con nhỏ được ngủ yên ấm, mẫu thân thà chính mình phải chịu ướt18
át rét buốt. Ân đức thứ sáu là cho con bú sữa thì con mập mạp mẹ
gầy yếu. Ân đức thứ bảy là vì con nên phải tẩy rửa những gì bẩn
thỉu, không tiếc gì bàn tay ngọc bị ô nhiễm, không sợ gì da thịt bị
rách buốt. Ân đức thứ tám là khi con phải đi xa, mẹ tựa cổng làng
trông xa lệ rơi tưởng nhớ. Ân đức thứ chín là nguyện thay cho con
chịu khổ, thương xót yêu dấu vô hạn. Ân đức thứ mười là trong
lòng từ mẫu yêu con, thương con không bao giờ ngưng nghỉ.” Sau
đây là những điều Phật Đà lần lượt ca tụng từ mẫu vĩ đại:
Thứ nhất tán dương ân đức Hoài Thai Thủ Hộ: Thân thể con
người khó được, phải trải qua luân hồi một số kiếp mới được làm
thân người, đồng thời kiếp này cũng phải cùng phụ mẫu có duyên,
nhờ vào thai của mẹ để thác sinh đến nhân gian, khoảng trên dưới
năm tháng, thai nhi trong bụng mẹ dần dần sinh ra ngũ tạng lục
phủ, giai đoạn đầu sáu tháng, lục tinh các khiếu môn (lỗ) của mắt
tai mũi miệng lưỡi ý cũng đều mở ra, sức nặng của thai nhi mỗi
ngày gia tăng, mẫu thân cảm thấy như có quả núi nặng nề, thai nhi
trong bụng mẹ động đậy đá lung tung, làm cho từ mẫu cảm thấy
như bị động đất, gió bão, lòng kinh sợ gan rét run, trong tâm chỉ
một lòng nhớ đến thai nhi trong bụng, thêm vào thân tâm mệt mỏi,
nên cũng thành lười biếng chẳng phấn son gì cho cá nhân mình,
quần áo đẹp đẽ gom cất lại, cũng rất ít khi soi gương chải chuốt.”
Thứ hai tán tụng ân đức Lâm Sản Thụ Khổ. Trải qua mười
tháng mang thai, tháng ngày đầy đủ tức là sẽ sinh đẻ con, trước vài
ngày sinh, người mẹ giống như bị bệnh nặng, tay chân như kiệt sức
lực, mỗi ngày như hôn mê, nhất là trong lòng càng lo lắng sợ sệt
rất khó mô tả, bởi vì lo lắng cho sự bình an của con, thường bị lệ
rơi ướt đẫm áo, nói những điều sầu bi với bạn bè thân thiết: “Điều
tôi rất sợ là không phải sự an nguy của bản thân, tôi lo trong lòng
sợ Tử Thần vô tình đoạt mất tiểu sinh mệnh của đứa con yêu qúy
của tôi đi.
Thứ ba tán tụng ân đức Sinh Tử Vong Ưu. Khi người mẹ sinh
con vì lý do phải dùng sức lực, lục phủ ngũ tạng giống như bị tê
liệt, giãy gịụa đau đớn, ngất xỉu đi nhiều hồi, vì con mà máu chảy
giống như thọc huyết dê, nước suối phun ra, người mẹ trải qua lần
này rất khó khăn mà chưa chết sống lại, rũ lòng hỏi đứa con yêu19
dấu của mình, biết chắc rằng con yêu được bình an vô sự, thì mang
trong lòng sự vui sướng vô cùng, ngoài mặt lộ ra nụ cười tươi tỉnh
an vui, sau nỗi vui, lại phải trải qua sự đau đớn như lấp biển đổ
núi, nhưng được đứa con thì lại quên hết những đau đớn, rồi nay
lại nhẫn nại chịu đựng nỗi thống khổ từ ngoài thân xác đến tận
trong tâm khảm.
Thứ tư tán tụng ân đức Yết Khổ Thổ Cam của phụ mẫu. Ân
huệ của phụ mẫu đối với con cái giống như biển sâu, sự chăm lo
che chở không kể ngày đêm, không hề nhăn mặt cau mày, lòng
thương yêu của phụ mẫu đối với con cái thật sâu nặng, không thể
nào tưởng tượng được, chỉ mong sao cho con cái được ấm no, bản
thân mình phải chịu đói chịu rét vẫn tình nguyện cam lòng, chỉ
mong cho con cái được vui vẻ hạnh phúc, phụ mẫu mới được an
vui.
Thứ năm Tán tụng ân đức Hồi Can Tựu Thấp của mẫu thân:
Từ mẫu thương con rất là chu đáo, đêm khuya con đái dầm ướt
giường, ướt chăn chiếu, mẹ vội vàng mang con nhỏ đặt vào một
chỗ khô ráo, bản thân phải ngủ ở nơi vừa ướt vừa lạnh mà không
hề có tiếng than vãn nào, chỉ mong sao con nhỏ ngủ được yên giấc,
một mình chịu lạnh chịu rét không hề để ý tới.Cặp vú của người
mẹ chính là thánh điện của hài nhi, mang đến cho hài nhi ấm áp và
sức khỏe; đôi tay áo của người mẹ vì con mà thành đôi tay che chở
gió rét, cha mẹ vì săn sóc cho con nhỏ mà bữa đói bữa no, lúc ngủ
lúc thức trắng, nghĩ cách làm sao cho con được vui vẻ trong lòng,
chỉ mong con ngủ được yên giấc, mau mau khôn lớn, lòng mẹ từ
đó mới được mãn nguyện, chẳng cầu cái gì khác nữa.
Thứ sáu tán tụng ân đức Bộ Nhũ Dưỡng Dục: Ân đức của từ
mẫu giống như đại địa chuyên chở, sinh sôi ra vạn vật, ân đức của
nghiêm phụ như cái vung trời bao trùm khắp cả, tưới ướt chúng
sinh, lòng cha mẹ thương con đều cũng giống như vậy. Ân sâu xa
của cha mẹ cũng tương đồng, chỉ cần là những đứa con của cha
mẹ, chẳng kể lớn lên dù phải chịu xấu xí bao nhiêu, cha mẹ cũng
không hề ghét bỏ, càng không bao giờ nhìn đứa con xấu xí với đôi
mắt giận dữ vì chân tay của đứa con bị cong queo, không nhanh
nhẹn, cha mẹ cũng chẳng hề chán ghét con, ngược lại cha mẹ càng20
thêm thương yêu chăm sóc, chính vì đứa con là báu vật trong lòng
cha mẹ, chân tình của cha mẹ làm sao không thể cảm động được
lòng người, chân tình của cha mẹ làm sao không thể vĩ đại cho
được!
Thứ bảy tán tụng ân đức Tẩy Trạc Bất Tịnh: Thân thể của mẹ
nguyên là lá ngọc cành vàng, diện mạo đẹp như hoa phù dung, tinh
thần tráng kiện, sáng sủa lại phong phú, lông mi xanh biếc như tơ
liễu, má thêm đỏ hồng, biểu hiện dáng điệu tươi trẻ, rực rỡ, nhưng
đã từng trải qua những thời kỳ vì con cái làm việc quá độ, diện
mạo như hoa biến thành xanh xao, già cỗi không thể tưởng tượng
được, đôi bàn tay xinh đẹp như ngọc cũng vì con cái phải tẩy rửa
những thứ dơ bẩn để biến thành thô kệch, nứt nể loang lổ, lòng mẹ
quả thật đáng thương mà đáng kính, vì con cái phải hy sinh tuổi trẻ
thanh xuân quí giá của chính mình, đổi lấy vẻ mặt tiều tuỵ mỏi
mệt!
Thứ tám ân đức Viễn Hành Ức Niệm: Có người thân tử biệt
con người ta thật rất đau thương không kể xiết, đau đớn đứt cả ruột
gan, đó cũng chính là khi có người con yêu dấu sống tha hương,
cũng làm cho mẹ hiền sầu thương không dứt; con cái xa quê
hương, núi sông cách trở, cha mẹ sớm tối thấp thỏm trông ngóng,
cầu Trời khấn Phật che chở phù hộ cho con để sớm có ngày được
bình an trở về bên cha mẹ, có những người con sống xa nhà cả
nhiều năm chẳng có thư từ tin tức gì, cha mẹ tuổi già sống tại nhà
ngày đêm trông mong, chỉ biết lau nước mắt đẫm trên mặt, giống
như con vượn già đã bị đánh mất con khóc lóc kêu gào, ruột gan
đứt đoạn, khiến cho lòng người cũng cảm thấy chua chát.
Thứ chín ân đức Thể Tuất Tử Nữ: Ân tình của cha mẹ thật
sâu nặng, làm người con thực khó lòng báo đáp, thực là “Ai nói
lòng tấc cỏ, báo đáp được ơn ba xuân!” Tình yêu con của mẹ quả
là to lớn! Con cái đi khỏi nhà sống ở ngoài, lòng mẹ thường đi theo
con, thương xót con chịu rét lạnh, sợ con phải chịu lụy chịu khổ,
nếu như biết được con phải chịu chút ít đau khổ, mẹ hiền tối đêm
không ngủ được, lòng thấy chua chat không thôi!
Thứ mười tán tụng ân đức Cứu Cánh Liên Tử: Lòng từ ái của
phụ mẫu như ánh sáng rực rỡ của mặt trời mặt trăng, mặt trời mặt21
trăng mãi mãi chiếu khắp nơi trên trái đất to lớn, tấm lòng của phụ
mẫu mãi mãi nhớ nghĩ đến con cái, ơn của cha mẹ sâu nặng, tấm
lòng của phụ mẫu càng không có lúc nào mà ngưng nghỉ, trong
sinh hoạt hàng ngày, khi đi đứng tâm thường nhớ nhung đến con
cái, chẳng kể gia đình các con đã ra ngoài sinh sống, lại càng để
lòng đi theo bên cạnh con, cho dù cha mẹ trăm tuổi cũng luôn vì
những đứa con tám mươi tuổi mà gửi gấm tấm lòng thương yêu,
phải nói ân đức thương yêu của phụ mẫu quả là vô tận, trừ phi
sống chết hai đường cách biệt.
Phật Đà nói xong mười đại ân đức của phụ mẫu, tiếp tục nói
với A Nan và chúng sinh rằng: “Ta thấy rất nhiều chúng sinh, tuy
có tính thiên phú chẳng sai, nhưng những người này lại tối tăm
không biết gì, xưa nay chẳng nghĩ rằng phụ mẫu có rất nhiều từ
đức ân trọng đối với con cái, đối xử với phụ mẫu họ không biết
cung kính hiếu thuận, ngỗ nghịch bất hiếu, vong ân phụ nghĩa, thật
sự làm người ta phải đau lòng! Các con đều biết rằng người mẹ
mang thai mười tháng, trong bụng như phải mang vật nặng, đứng
ngồi chẳng được yên ổn, ăn nuốt không trôi, ngủ cũng chẳng đặng,
như bệnh lâu ngày trói buộc vào thân thể, tinh thần suy sụp, thời
kỳ mang thai đã mãn hạn tức ngày sinh sản đến, mẹ còn phải chịu
hàng trăm đau đớn, máu chảy loang đầy đất, chết đi sống lại, phải
trải qua vô số những dày vò mới sinh ra được một hài nhi, người
mẹ lại còn phải lo lắng cho hài nhi có được bình an vô sự không,
nghe được nói rằng hài nhi an toàn sinh ra, mẹ mới được an tâm.
Đứa sinh ra rồi, mẹ bồng bế không rời tay, chăm sóc cho con bú
mớm, tay chân ê ẩm cũng đều vui chịu đựng, còn phải cay đắng
nữa vì con mà tẩy rửa quần áo, vật dụng dơ bẩn, hài nhi tiểu tiện
trên giường, mẹ phải ngủ nơi ẩm ướt, nhường chỗ khô ráo cho con
ngủ mà không một lời oán than, trong ba năm bồng bế thứ hài nhi
uống mỗi ngày chính là sữa mẹ, máu mẹ từ đó làm cho mẹ phải
gầy yếu!”
“Từ khi anh nhi cất tiếng khóc oa oa cho đến tuổi đồng niên,
thiếu niên, thanh niên, phụ mẫu không biết đã phải hao phí mất bao
nhiêu là tâm huyết để giáo dục con cái hiểu rõ về lễ nghĩa, tu đức
tính, con cái lớn lên thành người, phụ mẫu lại phải cay đắng khổ sở22
chuẩn bị dựng vợ gả chồng cho con, gom góp tiền vàng cho con
cái kinh doanh sự nghiệp, mong cho con cái sớm có thể có gia đình
nghề nghiệp vững chãi, tình thương yêu dắt dìu con cái của phụ
mẫu quả hết sức cực nhọc, nhưng chưa ttừng trước mặt con cái nói
ra hai chữ ân huệ, lại chẳng bao giờ trông mong vào sự báo đáp
của con. Một sáng nào con cái bị lâm bệnh, phụ mẫu trong lòng
sinh lo lắng như bị lửa đốt, thường vì quá thương con mà mẹ sinh
ra bệnh, chỉ còn mong con cái hết bệnh mạnh khỏe trở lại, thì bệnh
của mẹ do lo lắng sinh ra mới từ từ bình phục!”
“Phụ mẫu phải trải qua hàng trăm những cay đắng để dưỡng
dục con cái lại nguyện cho con sớm có ngày khôn lớn nên người,
có những người con một sớm được lớn khôn lại không biết phải
hiếu thuận với song thân, phụng dưỡng cha mẹ, những lời dạy dỗ
của song thân chẳng thêm được sự thông hiểu nào, hoặc nói ra
những lời châm chọc cha mẹ, thậm chí trợn mắt nhìn cha mẹ như
người thù, trong giòng tộc lại lăng nhục các bậc trưởng thượng,
chửi mắng những người anh em của mình, không đoái hoài gì đến
sự thân tình và lễ nghĩa, thật làm cho người khác đau lòng, nhức
óc. Tuy từng đi học đọc sách, nhưng lại chẳng tuân theo giáo huấn
của sư trưởng và sự khuyên bảo của phụ mẫu an hem, chẳng những
chẳng nghe lại còn ngang ngược ra vào nhà cửa không thèm thưa
gửi cha mẹ, lời nói hành động cử chỉ ngạo mạn vô lễ, làm việc gì
cũng đều chuyên quyền, tự ý chủ trương. Do vì các bậc trưởng bối
thương xót cho con cháu còn trẻ dại chưa biết gì, nên xem nhẹ bỏ
qua, nhưng đến sau này tính tình mỗi ngày thay đổi trở nên bạo
ngược, tàn nhẫn, chẳng những chẳng nghe các lời khuyên răn,
ngược lại trong lòng phát sinh ra thù hận, cuối cùng là xa lành các
người thân thích, bạn tốt, kết giao với những kẻ hại người hại bạn,
lâu ngày thành tính nết, điên đảo thị phi, làm hại bản thân mình,
ngu xuẩn vô cùng!”
“Một sớm bị bọn người xấu hại bạn dụ dỗ bèn bỏ cha mẹ gia
đình, rời bỏ quê hương, lưu lạc xứ ngườí, hoặc giả sống ở ngoài để
buôn bán mưu sinh, làm đủ các loại công việc, năm tháng lần lữa
trôi qua, tuối đời càng lớn, có người ở xứ người kết hôn lập gia23
đình, thậm chí già chết rồi mà chưa hồi hương, chưa từng tưởng
đến rằng thân thể này do đâu mà có vậy?”
“Có những người càng bất hạnh hơn, phiêu lưu nơi xứ người
lại giao dịch với bọn người ác hại người hại bạn, tự mình lại không
chú tâm cẩn thận, nên bị người ác dùng mưu kế hãm hại, hoặc
cùng với bọn xấu nhiễm tính xấu, làm những việc xấu xa, cuối
cùng bị dính líu, tai họa đến phải bị còng tay vào tù, hoặc bị xử tội
nặng, chết già trong ngục tốí, hoặc bệnh ma quỷ tai ách ràng rịt vào
thân, bị nghèo bệnh tật bức bách, thảm hại tả tơi chịu không nổi, bị
người đời khinh miệt, không ai thèm đoái hoài, bị bệnh hoạn thật
nặng, chết bỏ thây ngoài đầu đường, hình hài thối rữa, phơi dưới
nắng mưa, xương trắng khô cằn, hồn quỷ lưu lạc xứ người, từ đó
cách biệt thân nhân gia tộc, lại càng phụ bạc ơn sâu của cha mẹ!
Con cái bất hiếu chết thật rồi! Chẳng biết gì đến nghiêm phụ từ
mẫu nữa, sau khi đứa con thương yêu xa nhà, ngày đêm tưởng nhớ,
lòng lo lắng từng giờ từng khắc trông đợi, trông ngóng con lòng
như lửa đốt, ruột gan như cắt, nhân vì nghĩ nhớ con mà lệ đổ quá
nhiều, mắt do khóc lóc hoá mù lòa, sầu thương quá độ nên bị bệnh
khí suyễn; có các bậc phụ mẫu càng do nhớ mong con cái chẳng
còn chú tâm đến buôn bán, đưa đến gia đạo mỗi ngày suy thoái,
thậm chí mang bệnh mang hận mà chết, tức thân chết làm hồn ma
nhưng vẫn niệm niệm không quên được đứa con yêu dấu, không
thể cắt bỏ lòng thương yêu con, đúng là nhân tính rất thương con
lưu lộ ra ngoài”
“Có những đứa con chẳng những chẳng chuyên cần học tập
nghề nghiệp, lại thương xuyên kết bạn với bọn bất lương, truy tìm
những dị đoan tà thuyết, làm ra những hành vi bại hoại phong tục,
mười đứa đủ cả các bộ mặt vô lại, một bọn chó dũng mãnh, khinh
khi trấn áp những người lương thiện, làm chuyện lén lút, say sưa
cờ bạc, làm xằng làm bậy, gian dối phạm tội trong làng xóm, làm
cho đồng bào anh em phải liên luỵ, càng làm cho cha mẹ đau lòng,
tâm không an, không biết phải làm sao! Sáng sớm đi ra ngoài du
đãng cho đến khuya, nửa đêm mới về đến nhà, từ đó chẳng hề
thăm hỏi chăm lo đến cha mẹ, làm cho cha mẹ cảm thấy cô đơn vô
cùng bởi không ai đoái hoài giúp đỡ, cha mẹ tuổi tác ngày càng24
cao, hình hài tiều tuỵ, thân thể suy bại lại còn phải chịu sự liên luỵ,
chịu sự cười chê và lăng nhục, làm con cái mà nhẫn tâm vậy sao?”
Có những người con phải mất cha hoặc mất mẹ, đáng lý
phảiđặc biệt hiếu thuận mới đúng, nhưng sự thực không như thế,
bỏ phụ mẫu lạnh lẽo một thân, mặc cho cha hoặc mẹ vừa đói vừa
lạnh, không thăm không hỏi, làm cho cha mẹ sống trong tăm tối
một mình bi thương khóc lóc, tự oán tự than sao lại bất hạnh thế
này! Làm con cái đáng lý phải hoàn thành trách nhiệm phụng
dưỡng cha mẹ, con cái bất hiếu đã không nhận lấy trách nhiệm
này, làm cho cha mẹ hổ thẹn, chịu nhục nhã, trước mặt người khác
không dám ngẩng đầu lên, bởi sợ người khác chê cười.”
Thường trông thấy có những đứa con vì sinh hoạt của vợ con
nên phải cấp dưỡng, nỗ lực làm việc để chiếm được sự vui lòng
của vợ con, nhưng lại để cha mẹ lạnh lẽo một mình, xem cha mẹ
như người ngoài; vợ nói nhỏ thì nghe làm theo cả trăm chuyện, còn
những lời dạy dỗ của cha mẹ thì đầy tai không chịu nghe hoặc mở
miệng cãi lại, hoàn toàn không lòng kính mến, thực làm cha mẹ
đau xót trong lòng. Có những đứa con gáikhi chưa xuất giá, còn
biết hiếu thuận với cha mẹ, một sớm sau khi lấy chồng, lại biến
thành bất hiếu, cha mẹ vừa nói vài câu trong lòng liền sinh oán
hận, hiềm khích nhưng lại chịu đựng sự mắng chửi, đánh đập của
chồng, câm lặng mà chịu đựng. Đối với những người trong gia
đình chồng tình ý rất thâm hậu, đối với trai gái trong gia đình cũng
cực kỳ yêu trọng, nhưng đối vớicha mẹ chí thân cốt nhục thì lại
ngày dần dần lơ là xa cách, thực sự làm cha mẹ phải đau lòng! Lại
còn có những đứa con gái bất hiếu, theo chông ra xứ người cư trú,
xa lìa cha mẹ ở cố hương, một số cũng chẳng nghĩ đến thương cho
cha mẹ, tựa như cùng cha mẹ đoạn tuyệt vậy, một lá thư cũng
chẳng thèm gửi, làm cho cha mẹ ngày đêm trông ngóng, bồn chồn
nhớ mong, ăn ngử không yên, giống như người bị treo ngược rất
khó chịu, tình cha mẹ tưởng nhớ con chẳng bao giờ có thể ngưng
lại được. Thâm ân của cha mẹ đối với con cái là đại đức, thật là
mênh mông không biên giới, mãi mãi không có điểm ngừng,
không bút mực nào có thể hình dung hết được! Con cái nếu bất25
hiếu hướng đến Thần Minh mà xám hối e rằng cũng khó mà tẩy
thoát hết được!”
Phật Đà nói xong ân đức thâm trọng của phụ mẫu, các Thiện
Tri Thức mỗi người đều cảm thấy buồn đau, thương xót không
thôi, có người quỳ mọp dưới đất hướng lên không trung lễ bái, có
người đấm vào bụng mình tự trách, do vì quá độ sầu thương mà
toàn thân lỗ chân lông xuất ra máu tươi, do buồn bực mà chết ngất
đi một lúc. Chẳng lâu các người bất tỉnh đều tỉnh lại, đồng thanh
nói to lên rằng: “Thật nhiều đau khổ quá! Cha mẹ vì con cái đã
phải chịu đau khổ quá! Làm cho mọi người buồn đau thương xót!
Những đứa con bất hư hỏng cũng đã làm cha mẹ đau lòng! Chúng
tôi nay hồi tưởng lại, trong quá khứ thật là các đại tội nhân, thời đó
giống như các du thần đi trong đêm tối, lang thang phiêu bạt hết
Đông sang Tây, sinh hoạt trong ngày như kẻ uống ruợu say và
trầm lắng trong mê, từ đó cũng chẳng tưởng đến rằng tội khiên của
chính mình là nhiều và sâu nặng, bây giờ lắng nghe được giáo thị
của Phật Đà, như vừa tỉnh dậy từ đại mộng, thật hối hận một cách
sâu sắc những sai trái trong dĩ vãng, nghĩ rằng chính mình quả bất
hiếu bất nhân quá thể, ruột gan thực sự như tan nát, ngũ tạng như
lửa cháy! Nguyện thỉnh Thế Tôn từ bi thương xót cho sự không
biết của chúng con, cho chúng con một cơ hội bù đắp chuộc lại tội
lỗi, cho mọi người chúng con phải dùng phương pháp nào mới có
thể báo đáp ân sâu của cha mẹ?”
Phật Đà tiện thể kể ra tám diệu pháp để hiểu dụ các đệ tử:
“Các con dĩ nhiên đã hiểu rõ được rằng ân đức của phụ mẫu rất
thâm trọng, nay ta cũng vì các con mà thuyết minh: giả sử như có
một cá nhân, vai trái gánh cha, vai phải gánh mẹ đi vòng quanh
ngọn núi Tu Di, người gánh sẽ bị đá sắc đâm vào chân rất khó chịu
lại xuyên thấu cốt tủy nhưng vẫn không kêu khổ, máu tươi chảy ra
ngập đến mắt cá chân và phải trải qua hàng trăm ngàn vạn kiếp
như thế, tuy nhiên vẫn báo đáp được ân đức của cha mẹ.
Giả như có người nào sống trong những năm mất mùa, vì
không muốn cha mẹ bị đói, cắt thịt trên thân thể của mình, thái
thành những miếng thịt nhỏ và cấp dưỡng cho cha mẹ không bị26
đói, tuy có lòng hiếu thảo như thế trải qua hàng trăm ngàn vạn kiếp
cũng còn khó có thể báo đáp được ân đức của cha mẹ.
Lại nếu có người nào vì muốn cầu xin cho cha mẹ được bình
an trường thọ bèn móc hai mắt của mình ra đem dâng cúng Phật
Như Lai, và cứ làm như thế trải qua trăm ngàn vạn kiếp cũng còn
chưa có thể báo đáp được một phần trong vạn phần ân đức của cha
mẹ.
Giả như có người nào vì cha mẹ của mình, dùng dao sắc
nhọn móc tim của chính mình, đến nỗi máu chảy loang khắp mặt
đất, nhưng vẫn không sợ tất cả nhưng đau đớn, làm như thế trải
qua trăm ngàn vạn kiếp cũng còn chưa có thể báo đáp được ân đức
của phụ mẫu.
Lại có người nào vì cha mẹ mà chịu đựng trăm ngàn những
đao kích nhọn sắc cùng một lúc đâm vào thân thể của mình, đâm
thẳng rồi đâm ngang trải qua hàng trăm ngàn vạn kiếp chịu như thế
cũng không thể nào báo đáp được ân sâu của cha mẹ.
Giả sử có người nào vì muốn cầu xin sự bình an trường thọ
của cha mẹ mình, lấy chính thân thể của mình đốt lên làm đèn
trước Phật để cúng dường Như Lai và trải qua trăm ngàn vạn kiếp
cũng còn chưa thể báo đáp được ân sâu của cha mẹ.
Như có người nào vì muốn báo đáp sự lao khổ của cha mẹ
mà vào nơi nước sôi lửa bỏng, gãy xương xuất tủy tuy phải trải qua
như thế vô số vạn kiếp, nhưng cũng không báo đáp hết được ơn
sâu của cha mẹ.
Giả sử có người nào muốn hết sức làm tròn trách nhiệm
người con, thay cho cha mẹ nuốt những viên sắt tròn nóng bỏng,
toàn thân bị sắt nướng, bỏng lửa, cháy nát không kham nổi, cứ chịu
như thế qua trăm ngàn vạn kiếp cũng còn chưa có thể báo đáp
được một phần của hàng vạn ơn sâu vủa cha mẹ.
Lúc bấy giờ mọi người đã lắng nghe kỹ Phật Đà chỉ dạy các
loại ơn đức của phụ mẫu, mỗi người đều thấy bi thương rơi lệ, lòng
như bị dao cắt rất khó chịu, lại nghĩ không ra là làm sao để có
phương pháp báo đáp ân đức của phụ mẫu? Thật là hổ thẹn không
thôi, nên tất cả đã hướng Phật Đà đồng thanh vấn kế: “ Thưa Thế
Tôn! Bây giờ chúng con đã hiểu kỹ rằng chính chúng con là những27
tội nhân bất hạnh, nhưng mà không biết phải làm sao mới có thể
báo đáp được ơn sâu của cha mẹ?”
Phật Đà thấy mọi người đều có ý thẹn, nên hoan hỉ nói với
mọi người rằng: “Nếu như tưởng đến báo đáp ân đức của phụ mẫu
thì ít nhất vì phụ mẫu làm sáu sự kiện được liệt kê dưới đây: 1/ Sao
chép bộ kinh này, 2/ Đọc bộ kinh này, 3/ Xám hối tất cả tội lỗi, 4/
Cung kính thành tâm cúng dường Tam Bảo, 5/ Ắt nên thụ trì trai
giới, 6/ Bố thí nhiều, khuyến tu thiện pháp, gieo trồng rộng rãi cội
phúc. Sáu sự kiện này đều có thể làm được, đây chính là người con
có hiếu, nếu không thì phải nói đó chính là chúng sinh trong địa
ngục.”
Phật Đà nói tiếp lại hướng về Tôn Giả A Nan mà giảng dạy:
“Người bất hiếu với cha mẹ, sau khi chết tất nhiên phải đọa lạc vào
đại địa ngục A Tỳ, địa ngục này bề ngang tám vạn do tuần (1 do
tuần= 16 miles), bốn chung quanh đều là tường sắt, chung quanh
có lưới, làm cho tù nhân không có cách nào để dào thoát, trên mặt
đất là sàn bằng sắt có lửa mạnh đốt cháy, đâu đâu cũng có tia sáng
sấm sét, lửa điện, lại có đồng, thiết nấu chảy tưới lên thân thể tội
nhân, lại còn có thiết xà, đồng cẩu miệng phun lửa mạnh đuổi cắn
phạm nhân, mỗi phạm nhân bị thiêu, đói khát da dẻ cháy nát, khổ
không thể nói hết được, trên không còn có vô số tận những câu
móc, sung ống, khắp nơi đều là búa chuỳ bằng sắt, trường mâu,
sơn đao, kiếm thụ, đủ các loại hình cụ tra tấn, tuỳ lúc chuẩn bị sẵn
sàng đối với các phạm nhân để bị trảm, sát, phạm nhân trong địa
ngục phải chịu như thế hàng trăm nỗi khổ sở, không bao giờ ngưng
nghỉ, cũng không biết phải trải qua bao nhiêu là số kiếp? Chịu
xong hình phạt nơi này lại phải đưa vào địa ngục khác, trên đầu đội
chậu lửa nóng cháy mạnh mẽ, còn phải chịu thiết xa ép và dày vò
thân xác, thiết xa quay lại trượt qua thân làm cho lòng ruột bị
nghiến nát bét, xương đầu đều bể gãy, da thịt đều bị nát rữa ra,
trong thời gian một ngày mà phải chịu bao nỗi đau khổ chết đi
sống lại, thật chẳng dám nhìn. Những phạm nhân trong địa ngục
đều là do kiếp trước phạm trọng tội ngũ nghịch bất hiếu, mới phải
chịu sự dày vò như thế, hàng trăm thứ khổ sở.”
Lúc này mọi người đã nghe xong những lời Phật Đà khai thị,
đều thấy hổ thẹn, đau thương, mắt đẫm lệ hướng Phật Đà nêu câu
hỏi: “Mọi người chúng con phải làm thế nào bây giờ mới có thể
báo đáp ân sâu của cha mẹ?”
Phật Đà đáp lại: “Chẳng gì bằng biên ấn kinh này làm cho
kinh này phổ biến rộng rãi, có thể quyên ấn một quyển tức được
thấy công đức một Tôn Phật, nếu như quyên ấn mười quyển thì có
thể thấy được công đức mười Tôn Phật, từ đó suy ra, in ra trăm
quyển, nghìn quyển, vạn quyển kinh này, thì có thể thấy được công
đức trăm Tôn, nghìn Tôn, vạn Tôn Phật Đà. Người nào quyên góp
in ấn kinh này gợi ý cho chúng sinh, chư Phật tất nhiên thường
thường ở bên cạnh che chở cho, do Phật lực độ trì làm cho cha mẹ
và bản thân người này được sinh ở cõi trên hưởng thụ hạnh phúc
trời người mà không phải đọa lạc vào địa ngục chịu khổ.”
A Nan Tôn Giả cùng những người khác bao gồm Thiên Long
Bát Bộ và Chuyển Luân Thánh Vương đã nghe kỹ sự giáo hóa của
Phật Đà, buồn bã không ngăn được, hổ thẹn mãi không thôi, lông
tóc đều dựng đứng, mọi người đều hổ thẹn đau lòng hướng Phật
Đà thật lòng xám hối, phát nguyện lời thề: “Từ bây giờ cho đến vị
lai vô tận chính là trải qua ngàn vạn kiếp năm, tất cả chúng con dẫu
phải phân thây nát xươngthành cát bụi cũng nhất định gìn giữ
những lời dạy dỗ Thần Thánh của Như Lai, không dám một chút vi
phạm. Chúng con xin nguyện dẫu bị móc câu sắc móc kéo đầu lưỡi
dài ra cho đến do tuần, lại bị lưỡi cày sắt ở phía trên lưỡi cày qua
lại làm cho máu tươi chảy quanh thành song, cứ như thế trải qua
thời gian trăm nghìn kiếp cũng thề quyết chí không vi phạm lời
dạy của Phật Đà; xin nguyện dẫu tại trăm ngàn mũi nhọn làm
thành bánh xe đao phóng ra, chịu lưỡi đao nhọn sắc đâm vào thân
thể, nạo xương tủy, cũng không dám vi phạm sự giáo hóa của Phật
Đà; tức dẫu trong lưới sắt trói chặt toàn thân, đau khổ không chịu
nổi, tuy phải trải qua trăm ngàn vạn kiếp, cũng không dám vi phạm
lời dạy dỗ của Phật Đà; xin nguyện dẫu lưỡi đao đâm giã, các hình
cụ khác đâm giã thân thể thành tương thịt, tức làm cho da thịt gân
cốt khó nhận biết và phải trải qua trăm ngàn số kiếp cũng mãi mãi
không dám vi phạm lời dạy dỗ của Phật Đà.Sau cùng, Tôn Giả A Nan khoan thai từ vị trí chỗ ngồi đứng
dậy cung kính hướng Phật Đà thỉnh thị: “Thưa Thế Tôn! Kinh này
phải xưng hô là kinh gì? để chúng con tuân theo mà phụng trì?”
Phật Đà bèn bá cáo với mọi người rằng: “Bộ kinh này được
gọi là Phụ Mẫu Ân Trọng Nan Báo Kinh, các con mọi người hãy
tuân thủ và thi hành cho thật tốt!”
Lúc này A Nan cùng các đệ tử, Thiên Long Bát Bộ, mọi
người đã cung kính lắng nghe sự khai thị của Phật Đà, hiểu rõ
được đạo lý lòng sinh hoan hỉ, từng người hạ quyết tâm muôn đời
muôn kiếp kính cẩn tuân theo những lời dạy của Phật Đà, lấy hành
hiếu, tận hiếu làm chức sự. Sau đó mọi người hướng Phật Đà đảnh
lễ quỳ dài mà lạy rồi cáo lui.
Wednesday, September 2, 2015
Kinh vu lan bao hieu
PHỤ MẪU ÂN TRỌNG NAN BÁO KINH
(THE SUTRA OF THE PROFOUND AND
UNREDEEMABLE GRATITUDES FOR PARENTS’
GIVING BIRTHS AND BRINGING UP THEIR CHILDREN)
DỊCH GIẢ: LIÊN HOA VĂN HẢI
PHẦN DỊCH NGUYÊN VĂN (BẠCH THOẠI)
(THE SUTRA OF THE PROFOUND AND
UNREDEEMABLE GRATITUDES FOR PARENTS’
GIVING BIRTHS AND BRINGING UP THEIR CHILDREN)
DỊCH GIẢ: LIÊN HOA VĂN HẢI
PHẦN DỊCH NGUYÊN VĂN (BẠCH THOẠI)
Đương Phật Đà tại Xá Vệ Quốc kỳ thụ Cấp Cô Độc viên, dữ
Đại Tì Khiêu nhị thiên ngũ bách nhân cập Đại Bồ Tát tam vạn bát
thiên tại nhất khởi thời. Hữu nhất thiên, Phật Đà dẫn lãnh trước đệ
tử môn hướng Nam trực hành nhi lai, hốt nhiên phát hiện lộ biên
hữu nhất đôi khô cốt, thân vi Thế Tôn đích Phật Đà lập khắc phủ
thân, ngũ thể đầu địa hướng trước giá đôi khô cốt cung cung kính
kính địa lễ bái.
Thế Tôn đích giá phiên cử động, xử đắc chúng đệ tử đô hồ
nghi bất giải, vi hà Thế Tôn yêu như thử tố ni? A Nan tôn giả tựu
hợp thập tác lễ thỉnh vấn Thế Tôn: “Thế Tôn a! Nị thị tam giới
dích Đại Đạo Sư, nhất thiết chúng sinh dích từ phụ, vi thế nhân
thành phục thôi sung, ngã môn nhất trực đô thâm thâm địa kính ái
trước nị, thỉnh nị cáo tố ngã môn: cứu cánh thị nhân vi nã nhất
chủng nhân duyên, thập ma đạo lý, cánh hướng giá đôi khô cốt lễ
bái ni?
Phật Đà tựu dĩ từ bi đích khẩu khí đáp đạo: “A Nan , nị vấn
đắc hấn hảo, nị môn đại gia tuy nhiên đô thị ngã đích cao túc, nhi
thả xuất gia tu hành dã hấn cửu liệu, khả thị hữu ta sự tình nị môn
hoàn thị bất tri đạo lý! Giá nhất đôi khô cốt, khả năng thị ngã môn
tiền thế đích Tổ Tiên, hoặc thị đa sinh dĩ lai đích phụ mẫu, nã hữu
vi nhân tử giả bất bái phụ mẫu chi lý ni? Nhân vi giá cá duyên cố,
sở dĩ ngã cung cung kính kính địa hướng kỳ lễ bái.” Tiếp trước
hựu thuyết: “A Nan! Hiện tại nị bả giá đôi khô cốt phân vi lưỡng
đôi, như quả thị nam nhân đích cốt hài, tha đích nhan sắc giảo
bạch, phân lượng giảo trọng; thảng nhược thị nữ nhân đích cốt
cách, kỳ nhan sắc giảo hắc, phân lượng dã giảo khinh ta.”
A Nan tôn giả hựu vấn đạo: “Thế Tôn! Giá ngã tựu bất đổng
liệu, nam nữ tại thế, y trước các hữu bất đồng, nam nhân đầu đái
phong mạo, thân trước trường sam, hựu thúc trước yêu đái, xuyên
trước trường hài, y sức chỉnh tề, nhất khan tựu tri đạo thị nam tử
hán; nữ nhân tại thế hỉ ái trà chỉ phấn, tại thân thượng sái hương
thủy, giá nhất thân đả ban, khả dĩ khán xuất thị nữ nhân thân. Đản
thị, bất luận nam nữ tử hậu đô thành liệu khô cốt, một hữu thậm
ma sai biệt, hựu như hà phân biện ni?”
Phật Đà dĩ trầm trọng đích khẩu vẫn cáo tố A Nan: “Yêu thị
nam tử nhân đích thoại, tại thế đích thời hậu, kinh thường xuất
nhập Phật Tự, thính nhân giảng giải Phật Kinh, Giới Luật, cung
kính lễ bái Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, hựu cần niệm Phật Hiệu, dĩ
giá chủng thiện duyên, tử liệu dĩ hậu, ky cốt hài khiết bạch như
ngọc, thả phân lượng thậm trọng. Nhược thị nữ nhân tại thế đích
thời hậu, trầm nịch ư tình ái, bất tri thính Kinh lễ Phật, dĩ sinh nhi
dục nữ vi chức sự, nhi dưỡng dục tiểu hài, đô dĩ nãi thủy lai bộ
dưỡng, nãi nhũ thị do tha môn đích huyết sở biến thành, dưỡng
nhất cá tiểu hài tựu yêu duyện thực bát thạch dĩ thượng đích nãi
thủy, mẫu thể thậm ma bất tiêu sấu, tiều tụy ni? Nhân thử nữ nhân
tử hậu, kỳ cốt hài nhan sắc giảo hắc, nhi phân lượng thượng dã
khinh đắc đa liệu!”
A Nan tôn giả thính liệu Phật Đà đích thoại, nội tâm thống
khổ như đao cát, nhẫn bất trụ lạc lệ, bi thương ẩm khấp địa thuyết:
“Thế Tôn A! Từ mẫu đích ân đức, ưng đương như hà báo đáp tài
thị a?”
Phật Đà đối A Nan thuyết: “Nị môn thả tĩnh tĩnh địa thính
ngã thuyết ba! Mẫu thân hữu liệu thân dựng yêu kinh quá thập cá
nguyệt, khả dĩ thuyết bị thường tân khổ; hoài thai đầu nhất cá
nguyệt, tiểu sinh mệnh do như thảo thượng lộ châu, triêu bất bảo
tịch, diêu diêu dục trụy, thanh thần sở ngưng tụ đích, ngọ hậu khả
năng tựu hội tiêu thất vô tung; đệ nhị cá nguyệt tựu tượng ngưng
kết đích tô du nhất ban; tam cá nguyệt thời, phảng phất thị nhất
đoàn ngưng kết đích đại huyết khối; đáo liệu đệ tứ cá nguyệt, thai
nhi tài sảo sảo hữu liệu nhân đích hình trạng, mẫu thân hoài thai
ngũ cá nguyệt đích thời hậu, thai nhi chủ yếu đích khí quan: đầu, lưỡng thủ cập lưỡng túc dã dĩ thành hình liệu; lục cá nguyệt thời,
mẫu phúc lý đích thai nhi, lục chủng tinh khí dã đỗng khai liệu, giá
lục tinh tựu thị nhãn, nhĩ, tị, khẩu, thiệt, ý. Thất cá nguyệt đích thai
nhi, tựu trường liệutam bách lục thập phiến đích cốt tiết, hoàn sinh
xuất bát vạn tứ thiên cá mao khổng; bát cá nguyệt đích thời hậu,
thai nhi đích đầu não dĩ cận thành thục, hữu ý thức, hữu linh tính
liệu; nhân thân thượng đích cửu cá khổng đạo dã đô khai liệu: song
mục, lưỡng nhĩ, lưỡng tị khổng, nhất chủy, giang môn cập niệu đạo
đẳng. Thai nhi cửu cá nguyệt đích thời hậu, tại mẫu thể nội song
thủ song túc thị kinh thường loạn thích, loạn trùy, hữu như Tu Di
sơn động, xử đích mẫu thân tẩm thực nan an; thai nhi tự thụ thai dĩ
hậu, trực đáo trụy địa, kỳ gian hấp thực mẫu huyết, chuyển biến vi
thai nhi đích dinh dưỡng nhi đắc sinh tồn; đáo liệuđệ thập cá
nguyệt, thai nhi các bộ khí quan đô dĩ trục nhất hoàn thành, thai
nhi tùy thời chuẩn bị xuất sinh; kinh quá thập nguyệt hoài thai,
mẫu thân dã thụ túc liệu khổ sở! Vi liệu xử hài nhi sinh sản thuận
lợi, mẫu thể huyết lưu thành hà, xử thai nhi năng câu thuận huyết
hà nhi hạ, nhược ngộ an sản thời, hài nhi quyển thủ quyển thối, phi
thường thuận lợi đích sản hạ, tiểu hữu thương cập mẫu thể, giảm
thiểu mẫu thân bất thiểu đích thống khổ; nhược thị nan sản đích
thoại, tiểu thủ tiểu cước loạn thích loạn trảo, xử mẫu thân cảm đáo
thống khổ bất kham, như thiên đao lãm cát, như vạn tiễn xuyên
tâm, tử khứ hoạt lai, thảm bất nhẫn, vi nhân tử nữ, mạc vong mẫu
thân sinh nị, dục nị sở thụ đích khổ sở, phủ tắc, chân thị cầm thú
bất như!” Kinh quá trùng trùng đích thống khổ, á nguyệt tả hữu,từ
mẫu tài sinh đắc ái nhi, nhược tấn nhất bộ lai phân tích, từ mẫu chí
thiếu hữu thập đại thâm tư: “Đệ nhất thị mẫu thân hoài trước thai
nhi, bách ban cố ái bảo hộ đích ân đức. Đệ nhị thị mẫu thân phân
miễn thời thụ tận cực đại khổ sở đích ân đức. Đệ tam thị tuy nhiên
vi tử thụ tận ma chiết, ký sản đắc ái nhi khước vong liệu vi tử sở
thụ đích nhất thiết ưu khổ đích ân đức. Đệ tứ thị vi bộ thựcái nhi,
tận dĩ mỹ vị uỷ nhi đích ân đức. Đệ ngũ thị vi xử ấu nhi an thùy,
ninh khả tự kỷ thụ triều thụ đỗng đích thâm ân. Đệ lục thị dĩ nhũ
bộ nhi, nhi phì mẫu sấu đích thâm ân. Đệ thất thị vi nhi tẩy địch bất
tịnh, bất tích ngọc thủ ô nhiễm, bất phạ bì nhục đỗng liệt đích thâm4
ân. Đệ bát thị nhi hữu viễn hành, mẫu y lư diêu vọng, lưu lệ tưởng
niệm đích thâm ân. Đệ cửu thị nguyện đại nhi thụ khổ, vô hạn thể
tuất ái lien đích thâm ân. Đệ thập thị từ mẫu ái nhi liên nhi chi tâm,
vĩnh vô hưu chỉ đích thâm ân.” Dĩ hạ Phật Đà trục điều tán tụng
thân ân đích vĩ đại:
Đệ nhất tán dương Hoài Thai Thủ Hộ đích ân đức: “Nhân
thân nan đắc, kinh quá liệu luân hồi số kiếp tài đắc nhân thân, đồng
thời hựu dữ thử sinh đích phụ mẫu hữu duyên, đắc dĩ tạ trước mẫu
thai thác sinh đáo nhân gian lai; ngũ cá nguyệt tả hữu, thai nhi tại
mẫu phúc trung tiệm tiệm sinh xuất ngũ tạng lục phủ, lục cá nguyệt
tiền đoạn, lục tinh nhãn, nhĩ, tị, khẩu, thiệt, ý đích khiếu môn dã đô
khai liệu, thai nhi đích trọng lượng thiên thiên tăng gia, mẫu thân
giác đắc hữu sơn nhạc bàn đích trầm trọng, thai nhi tại mẫu phúc
trung loạn thích loạn động, xử từ mẫu giác đắc như đồng địa chấn
phong tai, tâm kinh đảm chiến, tâm thượng nhất trực điếm niệm
phúc trung đích thai nhi, gia thượng thân tâm bì phạp, dã lãn đắc
đả ban tự kỷ, phiêu lượng đích y phục thu khởi lai liệu, dã hấn
thiếu đối kính sơ trang.”
Đệ nhị tụng dương Lâm Sản Thụ Khổ đích thâm ân. Kinh
quá thập nguyệt hoài thai nhật mãn nguyệt túc, tức tương phân
miễn, sản tiền kỉ thiên mẫu thân tượng thị đắc liệu trọng bệnh, tứ
chi phạp lực, mỗi thiên hôn hôn trầm trầm địa, vưu kỳ tâm lý cánh
thị sung mãn khủng cụ tiêu cấp, nan dĩ miêu thuật, vi liệu đam tâm
hài nhi đích bình an, kinh thường lệ mãn khâm, dĩ bi sầu đích ngữ
điều cáo tố thân hữu: “Ngã tối phạ đích tịnh bất thị tự thân đích an
nguy, nhi thị đam tâm vô tình đích tử thần, đoạt tẩu liệu ngã bảo cụ
nhi tử đích tiểu sinh mệnh!
Đệ tam tụng dương Sinh Tử Vong Ưu đích ân huệ: Mẫu thân
sinh sản thời do ư dụng lực đích duyên cố, ngũ tạng lục phủ tượng
bị tê liệt nhất ban, thống khổ tránh trát, hôn quá khứ liệu hảo kỉ
hồi, vi tử nữ sở lưu đích huyết, tựu như tể dương tuyền dũng nhi
xuất, kinh quá giá trường đại nạn bất tử đích mẫu thân, tô tỉnh quá
lai đệ nhất kiện sự, tựu thị thùy tuân tự kỷ đích ái tử, tri đạo ái nhi
xác dĩ bình an vô sự, nội tâm hoan hỉ nhược cuồng, bão tại hoài lý,
liễm thượng lộ xuất hân uý đích tiếu dung, nhất trận hoan hỉ quá5
hậu, nan nhẫn đích thống khổ hựu như bài sơn đảo hải ban đích
dũng lai, cương tài toàn nhiên vi đắc tử nhi vong liệu thương đông,
hiện tại hựu đắc nhẫn thụ nhục thể thượng thống triệt tâm tràng
đích khổ sở.
Đệ tứ tụng dương phụ mẫu Yên Khổ Thổ Cam đích ân huệ:
Phụ mẫu đối tử nữ đích ân huệ tỉ hải thâm, đối tử nữ đích chiếu cố
dữ ái hộ bất phân trú dạ, dã bất tằng trứu nhất hạ mi đầu, phụ mẫu
đối tử nữ đích ái trọng tình thâm, xác thị vô pháp hình dung, chỉ
yêu tử nữ năng đắc ôn bão, tự kỷ ai nga thụ đống dã tâm cam tình
nguyện, chỉ yêu nhi nữ hoan hỉ khoái lạc, phụ mẫu tựu cảm đáo an
uý.
Đệ ngũ tụng dương Hồi Can Tựu Thấp đích ân đức: Từ mẫu
ái nhi vô vi bất trí, dạ vãn hài nhi niệu sang, lộng thấp bị nhục, cản
khoái bả hài tử di đáo can táo đích địa phương, tự kỷ thùy tại hựu
thấp hựu lãnh đích địa phương ti hào một hữu oán ngôn, chỉ yêu
hài nhi thùy đắc hảo, tự kỷ thụ lãnh thụ đống tịnh bất giới ý. Mẫu
thân đích song nhũ, thị hài nhi Thánh Điện, đái cấp hài nhi ôn noãn
dữ kiện khang; mẫu thân đích lưỡng tụ, canh vi hài nhi già đáng
liệu phong hàn, phụ mẫu vi chiếu cố ấu nhi cật một cật hảo, thùy
một thùy hảo, tưởng thiết pháp bác thủ hài nhi đích hoan tâm, chỉ
yêu nhi nữ thùy đắc an ổn, khoái khoái trường đại, mẫu thân dã tựu
tâm mãn ý túc liệu, biệt vô sở cầu.
Đệ lục tụng dương Bộ Nhũ Dưỡng Dục đích thâm ân: Từ
mẫu đích ân đức như đại địa trì tái tư sinh vạn vật, nghiêm phụ
đích ân đức như thiên chi phú cái quảng bị, tư nhuận chúng sinh,
phụ mẫu ái tử chi tâm đô nhất dạng, phụ mẫu đích thâm ân diệc
giai tương đồng, chỉ yêu nị thị phụ mẫu đích nhi nữ, vô luận
trường đắc đa xú, tha môn vĩnh viễn bất hội hiềm nị xú, canh bất
hội nộ mục tương đối, tựu thị nị thủ cước quyển do bất linh, tha
môn dã bất hội yếm ác nị, tương phản địa canh gia ái liên chiếu cố
nị, tựu nhân vi nị thị phụ mẫu đích tâm can bảo cụ nhi tử, phụ mẫu
đích chân tình hà kỳ cảm nhân, phụ mẫu đích ân tình hà kỳ vĩ đại
a!
Đệ thất tụng dương Tẩy Trạc Bất Tịnh đích thân ân: Mẫu
thân nguyên thị kim chi ngọc diệp chi thân, phù dung hoa ban đích6
mỹ mạo, tinh thần kiện vượng nhi phong thịnh đích, mi như liễu ti
nhất ban đích tân lục, hồng nhuận đích liễm sắc, hiển xuất liệu
thanh xuân hoán phát đích tư sắc, khả thị, tằng hà thời, vi tử nữ
thao lao quá độ, như hoa tự ngọc mạo biến đắc thương lão bất
kham, nhất song ngọc thủ, dã vi nhi nữ tẩy trạc quá đa đích bất tịnh
biến đắc thô tháo, thương ngân ban ban, khả lien hựu khả kính đích
từ mẫu tâm, vi nhi nữ vô điều kiện đích hy sinh liệu tự kỷ bảo quý
thanh xuân, hoán đắc liệu nhất liễm đích tiều tuỵ quyện dung!
Đệ bát tụng dương Viễn Hành Ức Niệm đích thâm ân: Thân
nhân tử biệt xử nhân bi thương nan nhẫn, thống đoạn can trường,
tựu thị ái tử viễn khứ tha hương, dã hội xử từ mẫu ai thương bất dĩ;
tử nữ viễn ly cố hương, sơn xuyên trở cách, phụ mẫu tảo vãn
huyền niệm, kỳ đảo thần Phật bảo tá, tảo nhật bình an hồi đáo thân
bàng, hữu đích nhi nữ ly gia, nhất khứ số niên vô âm tấn, niên lão
phụ mẫu tại gia nhật dạ phán vọng, dĩ lệ tẩy diện, hữu như lâm
trung lão viên thất khứ liệu ái tử, ai khấp đề hào, can trường thốn
đoạn, khiếu nhân vi chi tâm toan.
Đệ cửu tụng dương phụ mẫu Thể Tuất Tử Nữ đích thâm ân:
Phụ mẫu ân tình thâm trọng, vi nhân tử nữ thực nan báo đáp ư vạn
nhất, chân thị “thuỳ ngôn thốn thảo tâm, báo đắc tam xuân huy”!
Nhi nữ thụ khổ lao thời, từ mẫu cánh dạ ky đảo dĩ thân thế đại, hy
vọng vi tử nữ thụ khổ thụ tội, mẫu ái hà kỳ vĩ đại! Nhi nữ xuất
môn tại ngoại, từ mẫu tâm thường tương tuỳ, lien nhi thụ hàn thụ
đống, phạ nhi thụ khổ thụ luỵ, thảng nhược tri đạo nhi nữ thụ liệu
nhất ti nhất hào đích thống khổ, từ mẫu tựu dạ bất thành miên, tâm
toan bất dĩ!
Đệ thập tụng dương phụ mẫu Cứu Cánh Liên Tử đích thâm
ân: Phụ mẫu đích từ ái do như nhật nguyệt đích quang huy, nhật
nguyệt vĩnh hằng tịnh chiếu đại địa, thân tâm vĩnh viễn hệ niệm
nhi nữ, thân ân thâm trọng, thân tâm cánh thị vô thời hoặc chỉ khởi
cư hành chỉ tâm thường điếm niệm, bất luận gia cư ngoại xuất cánh
thị tâm tuỳ tả hữu, tức xử bách tuế đa nương, diệc thường vi bát
thập tuế đích nhi nữ phó xuất ái tâm, yêu thuyết phụ mẫu đích ân
đức từ ái hữu thời tận, trừ phi sinh tử dị lộ cách đoạn lộ liệu.7
Phật Đà thuyết hoàn phụ mẫu thập đại ân đức, tiếp trước cáo
tố A Nan cập chúng sinh: “Ngã khán vân vân chúng sinh, tuy nhiên
hữu đích tiên thiên bẩm phú bất thác, khả thị hữu ta nhân tính vô
tri mông tế, tòng lai bất tưởng phụ mẫu đối ngã môn hữu đa đại ân
huệ từ đức, đối phụ mẫu bất tri cung kính hiếu thuận, ngỗ nghịch
bất hiếu, vong ân phụ nghĩa, chân khiếu nhân thống tâm! Nị môn
đô tri đạo, mẫu thân thập nguyệt hoài thai, phúc trung như phụ
trọng vật, tọa lập đô bất đắc an ổn, ngật bất hạ, thùy bất trước, như
bệnh đã lâu gắn buộc vào thân thể, buồn rầu ủ rũ, thời kỳ mang
thai đã mãn tức sắp đến ngày sinh nở, lại còn phải chịu hàng trăm
đau đớn, thống khổ, máu chảy khắp mặt đất, chết đi sống lại, trải
qua vô số những sự dày vò rồi mới sinh được hài nhi, từ mẫu hựu
đảm tâm hài nhi thị phủ bình an vô sự, thính thuyết hài nhi an
nhiên sản hạ, từ mẫu giá tài tâm an. Tiểu hài sinh hạ lai, từ mẫu
hoài bão bất ly, uỷ nhi bộ nhũ, thủ toan cước ma dã đô tâm hỉ,
hoàn yêu tân khổ địa vi nhi tẩy địch bất tịnh đích y vật, hài nhi
niệu sang liệu, mẫu thùy thấp xứ, khước nhượng nhi nữ thùy can
tịnh đích địa phương, một hữu ti hào oán ngôn, tam niên hoài bão
trung, nhi nữ hát đích thị mẫu nhũ mẫu huyết, trực bả mẫu thân đô
lụy sấu liệu!”
“Tòng oa oa đọa địa đích anh nhi, dĩ chí đồng niên, thiếu
niên, thanh niên, phụ mẫu bất tri hoa liệu đa thiếu tâm huyết giáo
dục tử nữ minh lễ nghĩa, tu đức tính, nhi nữ trưởng đại thành nhân,
phụ mẫu hựu tân khổ địa vi tử nữ chuẩn bị giá thú, trù tập tư kim
cung nhi nữ kinh doanh sự nghiệp, xử nhi nữ năng tảo nhật thành
gia lập nghiệp, phụ mẫu đối tử nữ đích ái hộ đề huề chân thị bị cực
tân lao, đản tòng bất tại nhi nữ diện tiền đề đáo ân huệ lưỡng cá tự,
canh bất kỳ vọng nhi nữ đích báo đáp, nhi nữ nhất đán hữu bệnh,
phụ mẫu canh thị ưu tâm như phần, kinh thường do ư ái tử tâm
thiết nhi cấp xuất bệnh lai, chỉ hữu đẳng đãi tử nữ khôi phục kiện
khang, mẫu thân ưu tâm thành tật đích bệnh tài hội mạn mạn
thuyên dũ!”
“Kinh lịch bách ban tân lao dưỡng dục, đản nguyện tảo nhật
trưởng đại thành nhân, hữu ta nhi nữ nhất đán trưởng đại, bất tri
hiếu thuận song thân, phụng dưỡng phụ mẫu, phụ mẫu giáo hối bất8
gia lý hội, hoặc xuất ngôn đỉnh tràng, thâm chí nộ mục tương thị
như cùu gia, tại tộc nội khi lăng trưởng thượng, đả mạ đồng bào
huynh đệ, bất cố thân tình lễ nghĩa, chân khiếu nhân thống tâm tật
thủ. Tuy nhiên tằng thượng học độc thư, đản bất tuân tòng sư
trưởng đích huấn hối dữ phụ mẫu huynh đệ đích khuyến giới, bất
cận bất thính thả gia phật nghịch, xuất nhập gia môn, bất tri bẩm
cáo phụ mẫu, ngôn hành cử chỉ ngạo mạn vô lễ, sở tố sở vi thiện tự
chủ trương, bất bả phụ mẫu phóng tại tâm thượng, tức xử phụ mẫu
bá thúc ngẫu nhiên gia dĩ giáo huấn chỉ trách, đản thị, do ư trưởng
bối đích liên mẫn nhi tôn niên ấu vô tri, dĩ đô khinh khinh phóng
quá, khả thị đáo liệu hậu lai, tính tình dũ biến dũ bạo lệ tàn nhẫn,
bất đản bất thính khuyến đạo, phản nhi sinh xuất cừu hận tâm lý,
tối hậu ly khai thân thích hảo hữu, kết giao đích đô thị hoại nhân
tổn hữu, nhật cửu thành tính, điên đảo thị phi, vi hại tự thân, ngu
bất khả cập!”
“Nhất đán bị ác nhân hoại hữu sở dẫn dụ, tựu xả khí liệu phụ
mẫu gia đình, ly hương bội tỉnh, lưu lạc tha hương, hoặc giả tại
ngoại kinh thương mưu sinh, tố các chủng sự tình, tuế nguyệt tha
đà, niên tuế lão đại, hữu đích tựu tại ngoại kết hôn thành gia, thậm
chí lão tử dã bất hồi hương, tòng một tưởng đáo giá cá thân thể
tòng hà xứ lai?”
“Hữu ta canh gia bất hạnh, lưu lãng di hương gia thượng giao
thượng ác nhân tổn hữu, tự kỷ hựu bất tiểu tâm cẩn thận, ư thị bị
nhân dụng kế hãm hại, hoặc dữ nhân đồng lưu hợp ô, hồ tác phi vi,
chung bị khiên lien, hoạnh hoạ phi lai, lang đang nhập ngục hoặc
phán trọng hình, lão tử ngục trung, hoặc tao bệnh ma tai ách triền
thân, lộng đích bần bệnh giao bách, lang bái bất kham, thụ nhân
khinh thị, phạp nhân chiếu liệu, bệnh nhập cao hoang, khiên, khí
thi nhai đầu, hình hài hủ lạn, nhật sái vũ lâm, bạch cốt khô linh,
quỷ hồn lưu lạc tha hương, tong thử dữ thân nhân gia tộc vĩnh biệt,
canh thị hữu phụ phụ mẫu thâm ân! Bất hiếu nhi nữ, nhất tử bách
liệu! Thù bất tri nghiêm phụ từ mẫu, tự ái tử ly gia chi hậu, nhật tư
dạ tưởng, thời khắc ưu tâm, vọng nhãn dục xuyên, vọng đắc tâm
như phần, can trường thống đoạn, nhân vi tư tử lưu lệ quá đa, nhãn
tình đô khốc hạt liệu, bi khấp quá độ hựu đắc liệu khí suyễn bệnh;9
hữu đích phụ mẫu canh do ư hoài niệm nhi nữ, vô tâm kinh doanh
sinh ý, dĩ chí gia đạo nhật suy, nãi chí bão bệnh hàm hận nhi
chung, tức xử thân tử vi quỷ hồn, dã niệm niệm bất vong ái tử, bất
nhẫn cát xả thân tử chi ái, chân thị nhân tính chí ái đích lưu lộ.”
Hữu đích tử nữ bất cận bất cần ư học nghiệp, thả kinh thường
dữ bất lương bằng hữu vi ngũ, truy trục dị đoan tà thuyết, tố xuất
bại hoại phong tục đích hành vi, thập túc nhất phó vô lại hán đích
chủy liễm, hảo dõng đấu lang, khi áp thiện lương, kê minh cẩu đạo,
hú tửu đổ bác, vi phi tác ngạt, tác gian phạm khoa ư hương lý, xử
đồng bào huynh đệ lien lụy, canh xử phụ mẫu bi thống tâm loạn
bất tri như hà thị hảo! Thanh tảo xuất ngoại du thang, trực đáo
thâm canh bán dạ tài hồi gia, tòng lai bất hướng phụ mẫu thỉnh an,
hư hàn vấn noãn, xử phụ mẫu cảm đáo không hư vô tỉ, một nhân
chiếu liệu phù trì, phụ mẫu niên tuế tiệm cao, hình dung tiều tụy,
thân thể suy bại, hoàn yêu thụ đáo bất tiếu tử nữ đích lien lụy, thụ
đáo ngoại nhân đích ky tiếu dữ lăng nhục, vi nhân tử nữ, ư tâm hà
nhẫn?”
“Hữu đích tử nữ kì hữu cô phụ hoặc quả mẫu, lý ưng cách
ngoại hiếu thuận tài thị, đản sự thực thượng khước bất nhiên, bả
phụ mẫu lãnh lạc nhất bàng, nhiệm do tha ai ngạ thụ đống, bất văn
bất vấn, xử đắc phụ mẫu ám tự bi thương ẩm khấp, tự oán tự thán
hà kỳ bất hạnh! Vi nhân tử nữ lý đang thiện tận phụng dưỡng đích
trách nhiệm, bất hiếu nhi nữ khước bất đang nhất hồi sự, xử đắc
phụ mẫu hàm tu thụ nhục, tại nhân tiền đài bất khởi đầu lai, phạ
thụ nhân thủ tiếu.”
“Thường kiến hữu đích nhi tử vi liệu cung dưỡng thê nhi đích
sinh hoạt, bất từ tân lao, nỗ lực công tác dĩ bác thủ thê tử đích hoan
tâm, khước bả phụ mẫu lãnh lạc nhất bàng, thị đồng ngoại nhân;
thê tiểu đích thoại ngôn thính kế tòng, bách y bách thuận, phụ mẫu
đích giáo hối khước sung nhĩ bất văn, hoặc xuất khẩu đỉnh tràng,
toàn vô kính thượng chi tâm, chân khiếu phụ mẫu thương thấu liệu
tâm. hữu đích nhi nữ tại vị xuất giá chi thời, hoàn đỗng đắc hiếu
thuận phụ mẫu, nhất đán giá nhân chi hậu, khước biến đắc bất hiếu
khởi lai, phụ mẫu sảo vi thuyết tha ki cú, nội tâm tựu sinh xuất oán
hận hiềm ác đích tâm lý, nhi thụ đáo trượng phu đích nộ mạ độc tả,10
đô cam tâm mặc mặc thừa thụ. Đối trượng phu gia đích nhân tình ý
phả vi thâm hậu, đối gia thuộc tử nữ dã thị cực kỳ ái trọng, đản thị
đối ư cốt nhục chí thân đích phụ mẫu, khước nhật tiệm sơ viễn,
chân khiếu phụ mẫu thống tâm! Hoàn hữu ta bất hiếu đích nữ nhi,
tuỳ trước trượng phu đáo ngoại địa cư trú, ly khai liệu cố hương
đích đa nương, nhất ta dã bất tư mộ phụ mẫu, hảo tượng hoà phụ
mẫu đoạn tuyệt tự đích, nhất phong gia thư dã bất ký, xử đắc phụ
mẫu nhật dạ phán vọng, khiên trường quải đỗ, tẩm thực bất an, tựu
như bị đảo huyền ban đích nan thụ, phụ mẫu tư niệm tử nữ chi
tình, vĩnh vô hưu chỉ. Phụ mẫu đối ư tử nữ đích thâm ân đại đức,
chân thị hạo hãn vô tế, vĩnh vô chỉ cảnh, phi bút mặc sở năng hình
dung! Nhi nữ nhược thị bất hiếu, kỳ tội khiên tức xử hướng thần
minh xám hối, khủng phạ dã nan dĩ tẩy thoát điệu đích!”
Phật Đà thuyết hoàn phụ mẫu đích thâm trọng ân đức, chúng
thiện tri thức cá cá cảm đáo bi thống, ai thương bất dĩ, hữu đích
ngũ thể đầu địa đích hướng không quỵ bái, hữu đích trùy hung tự
trách, do ư quá độ bi thương toàn thân mao khổng đô lưu xuất liệu
tiên huyết, nhất thời khí muộn hôn tử quá khứ liệu. Bất cửu chúng
nhân đô tô tỉnh quá lai, tề thanh cao hô trước: “Đa thống khổ a!
Phụ mẫu vi liệu tử nữ dã thái thống khổ liệu! Đa khiếu nhân bi
thống ai thương a! Bất tiếu nhi nữ dã thái xử phụ mẫu thương tâm
a! Ngã môn hiện tại hồi tưởng khởi lai, dĩ vãng chân thị đại tội
nhân, nã thời tựu như hắc dạ du thần, Đông phiêu Tây đãng, quá
đắc túy sinh mộng tử đích nhật tử, tòng lai dã một hữu tưởng đáo
tự kỷ đích tội khiên hữu đa thâm, hiện tại linh thính Phật Đà đích
giáo thị, như đại mộng sơ tỉnh, thâm thâm hậu hối dĩ vãng đích quá
thác, tưởng đáo tự kỷ bất hiếu bất nhân chi chí, chân thị can
trường câu toái, ngũ tạng như phần a! Nguyện thỉnh từ bi đích Thế
Tôn, liên mẫn ngã môn đích vô tri, cấp ngã môn hữu cá bổ giáo
thục tội đích cơ hội, cáo tố đại gia dụng thậm ma phương pháp tài
năng báo đáp phụ mẫu đích thâm ân ni?”
Phật Đà tiện dĩ bát chủng diệu pháp hiểu dụ chúng đệ tử: “Nị
môn ký nhiên tri đạo phụ mẫu ân đức thâm trọng, hiện tại ngã thả
vi nị môn thuyết minh: Giả như hữu cá nhân, tả kiên thiêu trước
phụ thân, hữu kiên đảm trước mẫu thân, nhiễu trước Tu Di Sơn nhi11
hành, đảm tử tương bị nhục ma phá, hựu xuyên thấu liệu cốt tủy,
dã bất khiếu khổ, tiên huyết lưu hạ lai, yêm một liệu túc khỏa, như
thử kinh quá bách thiên vạn kiếp, nhưng nhiên báo đáp bất liệu phụ
mẫu đích thâm ân.
Giả sử hữu cá nhân, sinh tại cơ hoang đích niên đại, vi liệu
bất xử phụ mẫu ai ngạ, cát hạ thân thượng sở hữu đích nhục, thiết
thành nhục tiết, cung phụ mẫu sung cơ, tuy nhiên hữu như thử hiếu
tâm, kinh bách thiên vạn kiếp, hoàn thị nan dĩ báo đáp phụ mẫu
đích ân đức.
Thảng nhược hữu cá nhân, vi liệu kỳ cầu phụ mẫu đích bình
an trường thọ, tương tự kỷ song nhãn trá xuất lai hiến cấp Như Lai
Phật, giá dạng kinh quá bách thiên vạn kiếp, hoàn thị bất năng báo
đáp phụ mẫu thâm ân ư vạn nhất.
Giả nhược hữu cá nhân, vi liệu tự kỷ đích phụ mẫu thân,
dụng lợi nhận tương tự kỷ đích tâm oạt xuất lai, dĩ chi huyết lưu
biến địa, nhưng bất phạ nhất thiết đích thống khổ, giá dạng lịch
kinh liệu bách thiên vạn kiếp, hoàn thị bất năng báo đáp phụ mẫu
đích thâm ân.
Yêu thị hữu cá nhân vi liệu phụ mẫu thân, nhẫn thụ thiên
bách chi đích đao kích lợi nhận, đồng tại thứ tại tự kỷ đích thân
thượng, trực sáp hoạnh xuyên kinh bách thiên vạn kiếp, nhưng
nhiên vô pháp báo đáp phụ mẫu đích thâm ân.
Giả sử hữu nhân, vi liệu kỳ cầu phụ mẫu đích bình an trường
thọ, dĩ tự kỷ đích thân thể lai điểm nhiên Phật tiền đăng, như thử
cúng dường Như Lai kinh quá bách thiên vạn kiếp, hoàn thị bất
năng báo đáp phụ mẫu đích thâm ân.
Như quả hữu nhân, vi liệu báo đáp phụ mẫu đích tân lao, phó
thang đạo hỏa, đoạn cốt xuất tủy, tuy kinh vô số vạn kiếp, nhưng
nhiên báo đáp bất liệu phụ mẫu đích thâm ân.
Giả sử hữu cá nhân, vi liệu thiện tận tử trách, đại thế phụ mẫu
thôn hạ hỏa nhiệt đích thiết hoàn, toàn thân bị chích thiết nãng
thương, tiêu lạn bất kham, như thử kinh quá liệu bách thiên vạn
kiếp, hoàn thị bất năng báo đáp phụ mẫu đích thâm ân ư vạn nhất.”
Giá thời, đại gia linh thính liệu Phật Đà khai thị đích chủng
chủng phụ mẫu thâm ân, cá cá bi thương lạc lệ, tâm như đao cát12
ban đích nan thụ, hựu tưởng bất xuất như hà báo đáp phụ mẫu
thâm ân đích phương pháp? Chân thị tu quý bất dĩ, ư thị tề thanh
hướng Phật Đà khấu vấn đạo: “Thế Tôn a! Hiện tại ngã môn thâm
tri tự kỷ thị bất hạnh đích tội nhân, đản thị bất tri như hà tố? Tài
năng báo đáp phụ mẫu đích thâm ân ni?”
Phật Đà kiến đại chúng giai hữu quý ý, tức hoan hỉ đích cáo
tố đại gia: “Như quả tưởng đáo báo đáp phụ mẫu đích ân đức, chí
thiếu ưng cai vi phụ mẫu tố hạ liệt lục kiện sự: nhất, tả giá bộ kinh;
nhị, độc giá bộ kinh; tam, xám hối nhất thiết tội quá; tứ, kiền thành
cúng dường Tam Bảo; ngũ, tâm tu thụ trì trai giới; lục, đa bố thí
cần tu thiện pháp, quảng thực phúc bản. Giá lục kiện sự đô năng
biện đáo, tựu thị hiếu tử, phủ tắc đích thoại, tựu thị địa ngục trung
đích chúng sinh.”
Phật Đà tiếp trước hựu hướng A Nan Tôn Giả đảng thuyết
đạo: “Bất hiếu phụ mẫu đích nhân, mệnh chung tử hậu, tất nhiên
yêu đoạ lạc A Tỳ đại địa ngục khứ, giá nhất địa ngục tung hoành
hữu bát vạn do tuần, tứ chu đô thị thiết đích thành tường, chu vi
thiết hữu la võng, xử tù phạm vô pháp đào thoát, địa diện đô thị
thiết bản, hữu liệt hỏa thiêu trước, đáo xứ lôi quang điện hỏa, hựu
hữu đồng lưu thiết tương kiêu quán tại tội nhân đích thân thượng,
hoàn hữu khẩu thổ liệt hỏa đích đồng cẩu thiết xà truy phệ trước
phạm nhân, nhất cá cá bị thiêu đích cơ phu tiêu lạn, khổ bất kham
ngôn, không trung canh hữu số bất tận đích quải câu, thương sung,
mãn địa hựu thị thiết chất đích phủ trùy, trường mâu, đao sơn,
kiếm thụ đẳng chủng chủng hình cụ, tùy thời đô hội đối chuẩn tù
phạm khảm sát hạ lai, địa ngục tội phạm thụ thử bách ban đích khổ
sở, vĩnh vô hưu chỉ, dã bất tri đạo yêu kinh quá đa thiếu đích kiếp
số ni? Tức sử tại giá lý thụ quá liệu hình phạt, hựu yêu đả nhập kỳ
tha đích địa ngục khứ, đầu thượng đái trước sí nhiệt đích hỏa bồn,
hoàn yêu thụ thiết xa áp thân đích chiết ma, thiết xa lai hồi niễn
quá, trường đỗ đô toái liệt liệu, cốt đầu đoạn chiết liệu, bì nhục
toàn lạn điệu liệu.
Nhất nhật chi gian yêu hốt thụ thiên sinh vạn tử đích thống
khổ, chân thị thảm bất nhẫn đổ. Giá ta địa ngục đích tội nhân đô13
thị sinh tiền phạm liệu ngũ nghịch bất hiếu đích trọng tội, tài yêu
thụ như thử đích chiết ma, bách ban đích khổ sở.”
Giá thời, đại gia thính hoàn Phật Đà đích khai thị đô thâm vi
tàm quý bi thương lưu lệ hướng Phật Đà khất vấn đạo: “Ngã môn
đại gia như hà tố, tài năng báo đáp phụ mẫu đích thâm ân ni?”
Phật Đà đáp đạo: “Yêu tưởng báo đáp phụ mẫu đích ân đức,
tối hảo đích phương pháp, mạc quá ư biên ấn thử kinh, sử thử kinh
quảng vi lưu thông, năng quyên ấn nhất sách, tựu hữu kiến đáo
nhất Tôn Phật đích công đức, như quả quyên ấn thập sách, tựu
năng kiến đáo thập Tôn Phật, dĩ thử loại thôi, ấn bách sách, thiên
sách vạn sách thử kinh, tựu năng kiến bách Tôn, thiên Tôn, vạn
Tôn đích Phật Đà. Phàm thị quyên ấn thử thư khải phát chúng sinh
đích nhân, chư Phật tất nhiên thường thường thùy hộ đích thân
biên, tịnh thả dĩ Phật lực sử kỳ phụ mẫu cập bản nhân đắc sinh
thiên thượng, hưởng thụ thiên nhân đích lạc thú, nhi bất trí đọa lạc
đáo địa ngục thụ khổ.”
A Nan Tôn Giả cập chúng nhân, bao quát Thiên Long Bát Bộ
dữ Chuyển Luân Thánh Vương đẳng đế thính liệu Phật Đà đích
giáo hóa, bi bất tự câm, quý hận bất dĩ, toàn thân đích mao phát đô
thụ liệu khởi lai, đại gia đồng dĩ quý cứu đích tâm tình hướng Phật
Đà thực tâm Sám hối, phát thệ đạo: “Tòng hiện tại khởi nhất trực
đáo vô tận đích vị lai, tựu thị kinh quá thiên vạn kiếp niên, ngã
môn đại gia tức sử phấn thân toái cốt thành liệu trần ai, dã nhất
định kiên thủ Như Lai Thần Thánh đích giáo hối, bất cảm sảo hữu
vi bối. Ngã môn ninh nguyện bị lợi câu bạt xuất thiệt đầu trường
đạt do tuần, tái do thiết lê tong thượng diện canh triển quá khứ, sử
đắc tiên huyết hối lưu thành hà, như thử kinh quá thiên bách kiếp
đích thời gian, dã thỉ chí bất vi bối Phật Đà đích giáo hối, ninh
nguyện tại thiên bách lợi nhận tác thành đích đao luân trung tấn
xuất, thụ tiêm đao lợi nhận đích thứ thân quát cốt, dã bất vi bối
Phật Đà đích giáo hóa, tức sử bị thiết võng khẩn khẩn địa lý trụ
toàn thân, thống khổ nan nhẫn, tuy kinh thiên bách vạn kiếp, dã bất
nguyện vi bối Như Lai đích giáo hối; ninh nguyện nhượng nhẫn
thung đẳng hình cụ bả thân thể đảo thành nhục tương, tức sử bìnhục cân cốt nan dĩ biện nhận, kinh quá số thiên bách kiếp, dã vĩnh
viễn bất vi bối Phật Đà đích giáo hối.”
Nhi hậu, A Nan Tôn Giả an tường địa tòng tọa vị trung khởi
lập, cung kính địa hướng Phật Đà thỉnh thị đạo: “Thế Tôn A! Thử
kinh ưng đương như hà xưng hô? Dĩ tiện ngã đẳng tuân thủ phụng
trì ni?”
Phật Đà tựu cáo tố chúng nhân thuyết: “giá bộ kinh khiếu tố:
PHỤ MẪU ÂN TRỌNG NAN BÁO KINH, đại gia yêu hảo hảo
địa tuân thủ phụng hành ba!”
Giá thời, A Nan cập chúng đệ tử dữ Thiên Long Bát Bộ đẳng,
đại gia cung thính liệu Phật Đà đích khai thị, mao tắc đốn khai tâm
sinh hoan hỉ, các nhân hạ định quyết tâm vĩnh sinh vĩnh thế cẩn
tuân Phật Đà đích giáo hối. Dĩ hành hiếu, tận hiếu vi chức sự. Nhi
hậu, chúng nhân hướng Phật Đà đỉnh lễ mô bái cáo thối.
Monday, August 31, 2015
KINH CẦU SIÊU
KINH CẦU SIÊU
NGHI THỨC CẦU - SIÊU
(Tụng Kinh A Di Đà)
CÚNG HƯƠNG (Tụng Kinh A Di Đà)
(Thắp ba cây hương, quỳ ngay thẳng, cầm hương ngang trán niệm lớn bài cúng hương)
Nguyện đem lòng thành kính,
Gởi theo đám mây hương,
Phưởng phất khắp mười phương,
Cúng dường ngôi Tam Bảo.
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tánh làm lành.
Cùng Pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ:
Tâm Bồ-đề kiên cố,
Xa bể khổ nguồn mê,
Chóng quay về bờ giác. O
Nay đệ tử chúng con dâng hết lòng thành hướng về Ngôi Tam Bảo, trì tụng kinh chú, xưng tán hồng danh, tu hành công đức, ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo từ bi phóng quang tiếp độ Hương linh: (tên họ, pháp danh, ngày tháng năm mất, tuổi thọ) được nương nhờ công đức này về trước Phật đài, nghe Kinh thính pháp, tỏ ngộ tự tâm, sạch hết mê lầm, vãng sinh Tịnh Độ.
Nam-mô Hương Cúng Dường Bồ-tát. (3 lần)O
(Chủ lễ xá 3 xá rồi cắm hương vào Lư hương)
TÁN PHẬT
Đấng Pháp Vương vô thượng,
Ba cõi chẳng ai bằng,
Thầy dạy khắp trời người,
Cha lành chung bốn loài.
Quy y tròn một niệm,
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận .(xá 1 xá) O
QUÁN TƯỞNG
Phật, chúng sanh: tánh thường rỗng lặng.
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.
Lưới đế châu ví đạo tràng,
Mười phương Phật bảo, hào quang sáng ngời,
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. (xá 1 xá) O
ĐẢNH LỄ
Chí tâm đảnh lễ Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trú Tam Bảo. (1 lạy) O
Chí tâm đảnh lễ Nam mô Ta-bà Giáo chủ Điều ngự Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di-Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ-tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ-tát, Linh Sơn hội thượng Phật Bồ-tát. (1 lạy) O
Chí tâm đảnh lễ Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A-Di-Đà Phật, Đại Bi Quán Thế AÂm Bồ-tát, Đại Thế Chí Bồ-tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát, Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ-tát. (1 lạy) OO
TRÌ TỤNG
(Đại chúng ngồi thẳng lưng theo tư thế hoa sen. Duy Na và Duyệt Chúng khai chuông mõ . Từ đây chủ lễ xướng và đại chúng cùng tụng theo)
TÁN LƯ HƯƠNG
Kim lư vừa bén chiên đàn,
Khắp xông pháp giới đạo tràng mười phương,
Hiện thành mây báu kiết tường,
Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thiền,
Pháp thân toàn thể hiện tiền,
Chứng minh hương nguyện phước liền ban cho.
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát ( 3 lần) O
CHÚ ĐẠI-BI
Nam-mô Đại-Bi Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.
Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)
Nam-mô Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. (3 lần)
Phát Nguyện Trì Kinh
Cuối lạy đấng Tam Giới Tôn
Quy mạng cùng mười phương Phật
Con nay phát nguyện rộng
Thọ trì Kinh Di Đà
Trên đền bốn ơn nặng,
Dưới cứu khổ ba đường.
Nguyện cho người thấy nghe
Đều phát lòng bồ-đề,
Nếu một báo thân này
Sanh qua cõi Cực lạc
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)
KHAI KINH
Phật Pháp cao siêu rất thậm sâu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe thấy chuyên trì tụng
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát (3 lần) O
Phật nói Kinh A Di Đà
Ta nghe như vầy: Một thuở nọ Đức Phật ở nơi vườn Kỳ Thọ, cấp Cô Độc nước Xá-Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ kheo câu hội: đều là bậc A La Hán mọi người đều quen biết, như là:
Trưởng lão Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Đại Ca-Diếp, Ma-Ha Ca-Chiên-Diên, Ma-Ha Câu-Hy-La, Ly-Bà-Đa, Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già, Nan-Đà, A-Nan-Đà, La-Hầu-La, Kiều-Phạm-Ba-Đề, Tân Đầu-Lư-Phả-La-Đọa, Ca-Lưu-Đà-Di, Ma-Ha Kiếp Tân Na, Bạc-Câu-La, A-Nâu-Lầu-Đà, những vị đại đệ tử như thế.
Và hàng Đại Bồ Tát, Văn-Thù-Sư-Lợi: Pháp-Vương-Tử, A-Dật-Đa Bồ Tát, Càn-Đà-Ha-Đề Bồ Tát, Thường-Tinh-Tấn Bồ tát... cùng với các vị Đại Bồ tát như thế và với vô lượng chư Thiên như ông Thích-Đề-Hoàn-Nhơn..v..v.. đại chúng cùng đến dự hội.
Bấy giờ đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá-Lợi-Phất rằng: "Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.
Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực lạc?
Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.
Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc.
Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy chất báu, trong ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất.
Vàng bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.
Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sánh trắng, mầu nhiệm thơm tho trong sạch.
Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của đức Phật đó, thường trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa trời mạn đà la.
Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãy hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc ăn cơm xong đi kinh hành.
Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Lại nữa, Xá-Lợi-Phất! Cõi đó thường có những giống chim mầu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch hạt, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cọng-mạng; những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã.
Tiếng chim đó diễn nói những pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần..v..v.. Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng!
Xá-Lợi-Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó thiệt là do tội báo sanh ra. Vì sao?
Vì cõi của đức Phật đó không có ba đường dữ. Xá-Lợi-Phất! Cõi của đức Phật đó tên đường dữ còn không có huống gì lại có sự thật. Những giống chim đó là do đức Phật A Di Đà muốn làm cho tiếng pháp được tuyên lưu mà biến hóa làm ra đấy thôi.
Xá-Lợi-Phất! Trong cõi nước của đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, thí như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc hòa chung.
Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Xá-Lợi-Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Xá-Lợi-Phất! Nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà?
Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế nên hiệu là A Di Đà.
Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà.
Xá-Lợi-Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật nhẫn lại đến nay, đã được mười kiếp.
Xá-Lợi-Phất! Lại đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử đều là bực A La Hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết được, hàng Bồ tát chúng cũng đông như thế.
Xá-Lợi-Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Xá-Lợi-Phất! Lại trong cõi cực lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bực bất thối chuyển.
Trong đó có rất nhiều vị bực nhất sanh bổ xứ, số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên a-tăng-kỳ để nói thôi!
Xá-Lợi-Phất! Chúng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phải phát nguyện cầu sanh về nước đó.
Vì sao? Vì đặng cùng với các bậc Thượng thiện nhơn như thế câu hội một chỗ.
Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.
Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn.
Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó.
Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.
Xá-Lợi-Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế.
Nếu có chúng sinh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc.
Xá-Lợi-Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật A Di Đà, phương Đông cũng có đức A-Súc-Bệ-Phật, Tu-Di-Tướng Phật, Đại-Tu-Di Phật, Tu-Di-Quang Phật, Diệu-AÂm Phật; Hằng hà sa số những đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Nam, có đức Nhật- Nguyệt-Đăng Phật, Danh-Văn-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tu Di-Đăng Phật, Vô-Lượng-Tinh-Tấn Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Tây, có đức Vô Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại-Minh Phật, Bửu-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Bắc, có đức Diệm-Kiên-Phật, Tối-Thắng-AÂm Phật, Nan-Trở Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng-Minh Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương dưới, có đức Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh-Quang Phật, Đạt-Mạ Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương trên, có đức Phạm-AÂm Phật, Tú-Vương Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tạp-Sắc Bửu-Hoa-Nghiêm-Thân Phật, Ta La-Thọ-Vương Phật, Bửu-Hoa Đức Phật, Kiến-Nhất-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất! Nơi ý của ông nghĩ thế nào, vì sao tên là kinh: Nhứt-Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm?
Xá-Lợi-Phất! Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này mà thọ trì đó, và nghe danh hiệu của đức Phật, thời những thiện nam tử cùng thiện nữ nhân ấy đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Xá-Lợi-Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và của các đức Phật nói.
Xá-Lợi-Phất! Nếu có người đã phát nguyện, hiện nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cõi nước của đức Phật A Di Đà, thời những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; nơi cõi nước kia, hoặc đã sanh về rồi, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh về.
Xá-Lợi-Phất! Cho nên các thiện nam tử thiện nữ nhân nếu người nào có lòng tin thời phải nên phát nguyện sanh về cõi nước kia.
Xá-Lợi-Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, các đức Phật đó cũng ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Ta mà nói lời nầy: "Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm được việc rất khó khăn hi hữu, có thể ở trong cõi Ta Bà đời ác năm món trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, mà Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài vì các chúng sanh nói kinh pháp mà tất cả thế gian khó tin này".
Xá-Lợi-Phất! Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này, đó là rất khó!
Đức Phật nói kinh này rồi, ngài Xá-Lợi-Phất cùng các vị Tỳ kheo, tất cả trong đời: Trời, Người, A-Tu-La, v..v.. nghe lời của đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận đảnh lễ mà lui ra. Phật nói kinh A Di Đà.
MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA MẬT-ĐA TÂM-KINH
Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá-Lợi-Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. (3 lần)
VÃNG-SANH QUYẾT-ĐỊNH CHƠN-NGÔN:
Nam-mô a di đa bà dạ, Đa tha dà đa dạ, Đa địa dạ tha.
A di rị đô bà tỳ,
A di rị đa tất đam bà tỳ,
A di rị đa tì ca lan đế,
A di rị đa, tì ca lan đa,
Dà di nị dà dà na,
Chỉ đa ca lệ ta bà ha.
TÁN PHẬT
A Di Đà Phật thân sắc vàng
Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm
Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào
Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc
Trong hào quang hóa vô số Phật
Vô số Bồ tát hiện ở trong
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát
Quy mạng lễ A Di Đà Phật
Ở phương Tây thế giới an lành
Con nay xin phát nguyện vãng sanh
Cúi xin Đức Từ Bi tiếp độ.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ, Đại Bi A Di Đà Phật.
Nam mô A Di Đà Phật ( 108 lần) O
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát ( 3 lần) O
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát ( 3 lần) O
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát ( 3 lần) O
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát ( 3 lần) O
THẦN CHÚ THẤT PHẬT DIỆT TỘI
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nễ đế, ma ha dà đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha (3 lần) O
HỒI HƯỚNG
Phúng kinh công-đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi-hướng,
Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh,
Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não,
Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,
Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công-đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng-sanh,
Giai cộng thành Phật-đạo.
PHỤC NGUYỆN
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh Phục nguyện: nguyện cho đệ tử chúng con, tâm đạo vững bền, đường dài không nản, bốn thể khinh an , thân tâm dõng mảnh, dứt hết các bệnh hôn ám , sớm tiêu nghiệp chướng, không nạn, không tai, không ma, không chướng. Chẳng hướng đường tà, thẳng vào chánh đạo, phiền não tiêu diệt, trí tuệ lớn dần, mau ngộ đại sự, nối huệ mạng Phật, độ khắp chúng sanh, báo ân Phật Tổ.
Nguyện đem công đức thọ trì kinh chú, xưng tán hồng danh, hồi hướng siêu độ vong linh:..... vãng sinh ngày... tháng... năm.... tuổi, được vãng sinh Tịnh Độ.
Khắp nguyện: người mất siêu thăng, kẻ còn phước lạc. Chúng sanh được thấm nhuần mưa Pháp. Tất cả mọi người đều trọn thành Phật Đạo
Nam Mô A Di Đà Phật
TỰ QUY
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. O
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh Tạng, trí tuệ như biển. O
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. O
ĐẢNH LỄ
Đệ tử chúng con hôm nay, xin ghi nhớ công ơn quốc gia bảo hộ và Cha mẹ sinh thành, cúi đầu đảnh lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương (1 lạy) O
Đệ tử chúng con hôm nay, xin ghi nhớ công ơn dạy dỗ của Sư trưởng và sự tác thành của thiện hữu trí thức , cúi đầu đảnh lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương (1 lạy) O
Đệ tử chúng con hôm nay, xin thay mặt cho tất cả chúng sanh đang đau khổ trong ba đường ác đạo, cúi đầu đảnh lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương (1 lạy) O
Nghi thức cầu siêu hết
Subscribe to:
Comments (Atom)